Thứ Năm, ngày 21 tháng 1 năm 2016

BỎ RƠI VÀ THÁO CHẠY!

Chính quyền 'VNCH' trên thực tế là một chính quyền do Mỹ dựng lên, điều khiển và do đó là công cụ phục vụ ý chí, mục tiêu đế quốc của Mỹ. Sự thật lịch sử cho thấy nó không phải là do một tổ chức chính trị nào của người Việt tự vận động sự ủng hộ của quần chúng lập ra như chính quyền VNDCCH hay MTDTGPMN. Nó được Mỹ trực tiếp nhảy vào Việt Nam dựng lên. Ngô Đình Diệm đã chọn đứng ngoài cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc bằng cách chạy sang Châu Âu và Mỹ tu. Đến khi kháng chiến thành công lại bỏ tu dựa hơi Mỹ mò về lên làm tổng thống.
Thời đại mới không cho phép Mỹ theo đường lối thực dân cũ như Pháp nên họ lập ra chính quyền ngụy để danh chính ngôn thuận lấy cớ bảo vệ nó mà nắm lấy miền Nam. Quân đội ngụy bao gồm thành phần chỉ huy có tiền sự làm tay sai cho Pháp và thành phần lính quèn được chiêu mộ từ dân trong vùng ngụy kiểm soát. Họ là những người bị tẩy não hoặc bị bắt buộc cầm súng chống lại ý chí nguyện vọng của dân tộc.
Tất cả những chiến lược chính trị và quân sự của chính quyền ngụy được trực tiếp vạch ra hoặc chi phối nặng nề bởi người Mỹ. Tổng thống thực chất là do người Mỹ quyết. Rõ ràng Diệm là do một tay họ đưa lên nhưng không thích nữa thì chỉ cần nháy mắt vung tiền là cả nhà tổng thống cũng phải về 'hưởng nhan thánh chúa' ngay tắp lự.
Người Mỹ huấn luyện ra quân ngụy để giết cộng sản và khủng bố cho tất cả dân miền Nam phải theo họ để chia cắt thành công Việt Nam. Đó là ý muốn của họ chứ không phải của người Việt. Khi thấy tay sai bất lực vô dụng, Mỹ đã phải trực tiếp đem quân vào vì nếu không, chuyện ngụy quyền sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian. Họ đã thay đổi nhiều chiến lược khác nhau để nhằm đạt được mục đích trên.
Đến khi bị thiệt hại quá mức cho phép mà VC ngày càng mạnh, người Mỹ bắt buộc phải ôm hận cuốn gói và chiến lược cuối cùng mà họ đưa ra là 'Việt Nam hóa chiến tranh', tức trở lại thời kỳ truớc khi họ quyết định đem quân vào! Tức chính quyền và quân đội ngụy sớm muộn chắn chắn sẽ sụp đổ! Vì vậy cùng với việc rút quân, Mỹ đã cắt giảm viện trợ và cuối cùng cúp hẳn luôn chứ không thể cứ đóng hụi chết mãi được.
Đầu năm 1973, Cộng sản Việt Nam và người Mỹ đã thỏa thuận các điều khoản của Hiệp định Paris mà không cần hỏi ý kiến ngụy. Ngụy quyền do đó bị đặt vào thế đã rồi và bị ép ký cho đủ thủ tục, trong tức tưởi, vì thực chất họ chỉ là một con tốt chứ không phải người chơi cờ. Không ký thì chết càng nhanh vì Mỹ sẽ cúp tiền ngay. Ký thì cúp từ từ!
Trước đó vào năm 1972, Mỹ cũng đã bắt tay với TQ để chống Liên Xô. TQ do đó mới mạnh dạn lên kế hoạch lấn chiếm Hoàng Sa vì Mỹ nay đã là đồng minh của họ và bỏ rơi con tốt thí 'VNCH'.
Mỹ đã bỏ thì ngụy cũng chẳng tha thiết gì. Nếu có ý định bảo vệ Hoàng Sa thì họ đã có những hành động theo dõi chặt chẽ tình hình và bổ sung lực lượng kịp thời để bảo vệ các đảo còn trong tay mình nhưng họ lại làm ngược lại! Sau Hiệp định Paris, chính quyền ngụy đã cho rút bớt các đơn vị đồn trú trên đảo theo kiểu Mỹ cho bao nhiêu tiền thì giữ bấy nhiêu đất.

Hành động đánh theo tiền này phù hợp với những hành động, phát ngôn trước và sau đó của ngụy quyền như Thiệu từng nói: 'Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng!' hay 'Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập'.
Vì đã quyết bỏ nếu không được trả tiền đánh thuê nên từ thế chủ động, ngụy quyền đã tự rút quân để cho quân TQ bò lên chiếm đảo rồi mới 'tấn công' giành lại! Đây là một vụ bán độ vụng về để rũ bỏ trách nhiệm nhưng vẫn có thể mị dân vỗ ngực là 'yêu nước', 'chiến đấu anh dũng', thậm chí 'ăn mừng chiến thắng' được!
Tưởng niệm lính ngụy chết trong vụ bán độ vụng về trên là một việc làm hết sức ngu xuẩn. Mỹ quyết định thí tốt là chính quyền Thiệu trong ván cờ Việt Nam thì Thiệu lại thí mấy chục mạng lính để khỏi mất công đau đầu giữ đảo nữa. Tại sao những kẻ tình nguyện hoặc bị bắt buộc làm tay sai giữ đất Việt Nam cho Mỹ và chết thí khi Mỹ bỏ cuộc chơi lại có thể trở thành anh hùng được tưởng niệm ghi công?! Công gì ở đây?!

(sƯU tẦM)
============================

Lessons from the Battle of the Paracel Islands

Thứ Tư, ngày 20 tháng 1 năm 2016

KHI KỀN KỀN ĂN XÁC CHẾT! (gocnhinthoidai blog)

"19/01, ngày này, hàng loạt đối tượng luôn tự cho mình là “hoạt động cho dân chủ, nhân quyền, cho độc lập và tự do cho xã hội” đang tưởng niệm 74 người lính của VNCH bị thiệt mạng trong khi giao tranh tại quần đảo Hoàng Sa, đánh dấu sự kiện quần đảo này chính thức rơi vào tay của Trung Quốc (1974). Hành động, nghĩa cử cao đẹp này sẽ chẳng có gì đáng nói, đáng lên án nếu chúng không đội lốt, ngụy trang để tôn sùng chế độ VNCH. Một trong nhiều việc làm bẩn thỉu để chứng tỏ cho mọi người thấy “dân chủ”, “nhân quyền” chỉ là vỏ bọc để những tên ác thú kia đội lốt nhằm lừa bịp dân chúng. Mục đích của chúng chỉ là được tụ tập, đàn đúm, chơi bời trai gái và cả được lên hình trên các trang mạng xã hội nữa! "

 ĐỪNG CHẠM VÀO LÒNG TỰ TÔN CỦA MỘT DÂN TỘC




Chúng ta không giữ mãi lòng thù hận với những người từng là kẻ thù của Nhân dân, của đất nước, đặc biệt khi chúng cũng là con dân của đất Việt, là con Lạc, cháu Hồng. Tuy nhiên, ta không cho phép bản thân mình quên đi sự thật của lịch sử, cũng như không thể dung tha cho bất cứ kẻ nào lợi dụng, xuyên tạc lịch sử để phục vụ cho mục đích, hoạt động chống phá. 





Chúng đang tôn vinh ai???
Chế độ Việt Nam Cộng hòa hay lính của VNCH là bọn bán nước, là những tên tay sai cho Mỹ. Vinh danh, tưởng nhớ chúng là sự cổ vũ cho tội ác, là động chạm vào lòng tự tôn của một dân tộc, là chà đạp lên sự hi sinh, lên biết bao xương máu đã đổ xuống của các thế hệ cha anh vì độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Lịch sử sẽ, sẽ được lịch sử đánh giá.
19/01, ngày này, hàng loạt đối tượng luôn tự cho mình là “hoạt động cho dân chủ, nhân quyền, cho độc lập và tự do cho xã hội” đang tưởng niệm 74 người lính của VNCH bị thiệt mạng trong khi giao tranh tại quần đảo Hoàng Sa, đánh dấu sự kiện quần đảo này chính thức rơi vào tay của Trung Quốc (1974). Hành động, nghĩa cử cao đẹp này sẽ chẳng có gì đáng nói, đáng lên án nếu chúng không đội lốt, ngụy trang để tôn sùng chế độ VNCH. Một trong nhiều việc làm bẩn thỉu để chứng tỏ cho mọi người thấy “dân chủ”, “nhân quyền” chỉ là vỏ bọc để những tên ác thú kia đội lốt nhằm lừa bịp dân chúng. Mục đích của chúng chỉ là được tụ tập, đàn đúm, chơi bời trai gái và cả được lên hình trên các trang mạng xã hội nữa! 
Lố bịch thay, khi những vòng hoa được kết bởi dăm ba bông hoa nhếch nhác, những dòng chữ nguệch ngoạc, thô kệch, chúng thả trên những chiếc hồ cá, chụp hình khoe mẽ nhằm lòe bịp bàn dân thiên hạ, chỉ để thể hiện chúng là người yêu nước thực thụ. Ai tin được chúng yêu nước? Xin trả lời: chỉ có kẻ có ý đồ đen tối, chống lại tinh thần tự tôn của dân tộc mới tin vào lời lẽ của bọn cổ xúy, tôn vinh cho kẻ bán nước, hại dân!

Lan Chi

Thứ Ba, ngày 19 tháng 1 năm 2016

LẠI TUỒNG CŨ (kenhvietnam)

 Lướt nét nghe rần rần kêu gọi xuống đường đi tưởng niệm của đám rân chủ, họ cứ nghĩ những người đi là yêu tổ quốc là chống ngoại xâm, xin thưa các vị vẫn đúng là đám rân chủ xôi thịt. Bần xin trích bài của Niềm Tin, cho đám rân chủ ngộ, độ điều phải quấy.


 =========o0o=======

LẠI TUỒNG CŨ

 
Đến hẹn lại lên, ngày 19/1, “dân chủ cuội” trong nước lại lên kế hoạch chuẩn bị cho cái gọi là “tưởng niệm về sự hi sinh bảo vệ Hoàng Sa” tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó No U FC chủ trì tại Hà Nội và CLB Lê Hiếu Đằng tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ảnh: Trang tểu đang đàn kêu gọi ở phía Nam
 
Kịch bản sẽ không có gì khác, vẫn là đăng tin kêu gọi người đi tưởng niệm trái phép một cách rầm rộ, sau đó, thông qua tưởng niệm sẽ có những hành động nhằm chống lại chính quyền. Bản chất của việc tưởng niệm là hòng đánh lừa dư luận, hướng dư luận vào những việc mà nhìn bề ngoài là “tốt đẹp”, “chính nghĩa”. Còn thành phần tham gia thì cơ bản vẫn như năm ngoái.
Chúng ta đã biết tới âm mưu của những nhà “dân chủ cuội” trong nước, nhận sự giúp đỡ từ bên ngoài, lấy cái mác đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền” hòng thực hiện chuyển hóa chế độ chính trị trong nước, lật đổ chính quyền Việt Nam hiện tại. Đặc biệt trong thời gian này, khi đại hội đảng toàn quốc khóa XII sắp khai mạc, một sự kiện được cho là thu hút được sự chú ý không chỉ dư luận trong nước mà cả quốc tế. Đây cũng sẽ là lúc lũ “dân chủ cuội” trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá, bôi nhọ hình ảnh để cản trở việc tổ chức đại hội đảng.
Nói đến sự kiện tưởng niệm của giới “dân chủ”trong nước trong ngày 19 tháng 1. Đây là một minh chứng cho nỗi nhục của chế độ tay sai Việt Nam cộng hòa. Xin được nhắc lại, thời điểm Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa, hải quân của Việt Nam cộng hòa, dưới sự tài trợ của Mĩ, là một trong những đội quân được đánh giá là mạnh ở khu vực Châu Á và quan trọng là hơn hẳn Trung Quốc. Tuy nhiên, sự bỏ mặc của chính quyền tay sai đã khiến 74 lính hải quân phải hi sinh trên đảo.
Nếu họ có tâm như thế, sao những sự kiện chiến sĩ hi sinh trên chiến trường Miền Nam, hi sinh trên chiến trường Campuchia, hay các cuộc thảm sát do các nước đế quốc gây ra tại Việt Nam không thấy một ý kiến gì. Phải chăng sự phân biệt giữa những người đã hi sinh này. Cái tâm cần thể hiện toàn diện chứ không nên thể hiện nửa vời, thời vụ, cảm hứng như thế các nhà dân chủ ạ.
Bên cạnh đó, việc đòi tưởng niệm sự kiện này của giới dân chủ hoàn toàn không hợp với xu thế, bởi lẽ, Việt Nam đang thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc, tạm gác những nỗi đau của lịch sử cũng như sự xâm chiếm của các nước thực dân để xây dựng đất nước. Rõ ràng, việc đòi tưởng niệm đang nhằm mục đích nhắc lại vết hằn trong lịch sử Việt Nam, nhắc lại sự hiện diện của chính quyền tay sai Việt Nam cộng hòa. Không những thế, thời điểm hiện tại, Đại hội Đảng đang tới gần, chúng ta phải chủ động đề phòng với những ý đồ bẩn thỉu hòng phá hoại đại hội đảng, chống lại công cuộc xây dựng đất nước thời kì mới.
Do vậy, diễn lại tuồng cũ của giới dân  chủ cần phải được ngăn chặn, trước hết là đảm bảo an ninh trật tự cho đại hội Đảng đang chuẩn bị diễn ra, sau nữa là đảm bảo cho bình yên của xã hội. Tôi hi vọng cơ quan chức năng mạnh tay với những người chai lì kiếm sống trên món nghề “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” này. Để họ hiểu được giá trị của cuộc sống, hiểu được giá trị của bình yên như hôm nay.

Niềm Tin

Thứ Tư, ngày 09 tháng 12 năm 2015

Phóng viên A.C. Thompson kêu gọi cung cấp thông tin liên quan nhóm khủng bố Việt Tân giết người tại Mỹ

Từ năm 1981 và 1990, 05 nhà báo gốc Việt ở Mỹ đã bị thiệt mạng do nhóm sát thủ K-9 của tổ chức khủng bố Việt Tân thực hiện; trong hoàn cảnh mà Cục Điều tra Liên bang (Federal Bureau of Investigation, hoặc FBI) đã nghi ngờ là một chuỗi ám sát mang tính chính trị. Cục Điều tra Liên bang tin rằng một tổ chức được những cựu sĩ quan quân đội Miền Nam Việt Nam đứng đầu, được gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam, là tổ chức đứng sau lưng của chiến dịch gây khủng bố này. Tuy nhiên, không một ai đã bị bắt giữ. Đến nay, một cuộc điều tra được ProPublica/Frontline thực hiện đã khai quật những bằng chứng mới kết nối các thành viên của Mặt trận với một số các vụ ám sát này. Nhưng chúng tôi biết câu chuyện này còn nhiều chi tiết hơn nữa. Phóng viên A.C.Thompson của ProPublica giải thíchdướiđây và kêu gọi mọi người  cung cấp thông tin liên quan nhóm khủng bố Việt Tân đã giết những nhà báo gốc Việt ở Mỹ.
Bần xin chia sẻ nội dung mà Thompson kêu gọi.

Thứ Tư, ngày 11 tháng 11 năm 2015

TERROR IN LITTLE SAIGON - KHỦNG BỐ Ở LITTLE SÀI GÒN (Phụ đề tiếng Việt bởi DLV.vn)


Phóng sự điều tra “Terror in Little Saigon” trên truyền hình PBS do A.C. Thompson làm việc với cơ sở truyền thông ProPublica và chương trình Frontline của hệ thống truyền hình PBS trong gần hai năm để thực hiện phóng sự về những vụ ám sát nhà báo gốc Việt tại Mỹ do tổ chức khủng bố Việt Tân cử nhóm sát thủ có tên K-9 thực hiện một cách dã man, chuyên nghiệp.Terror in Little Saigon” – Khủng bố ở Little Saigon – dài 54 phút đã được chiếu trên kênh PBS tối thứ Ba 3/11/2015.

(Ký giả A.C. Thompson trong phóng sự nói rằng K-9 thuộc Mặt Trận của cố Đề đốc Hoàng Cơ Minh và là nhóm đặc trách ám sát các nhà báo Việt ở Hoa Kỳ thời thập niên 1980 )

Mời mọi người xem bản có phụ đề Tiếng Việt do DCOL thực hiện.

BẢN FULL TIẾNG VIỆT: VIỆT TÂN ĐÃ GIẾT HẠI HÀNG LOẠT NHÀ BÁO GỐC VIỆT ĐỂ BỊT MIỆNG


 

 

Việt Tân: "Kẻ khủng bố ở Tiểu Sài Gòn" - Phần 2: Vụ án bị lãng quên (DLV.vn lược dịch)

Chỉ 24 giờ sau khi Dương Trọng Lâm bị giết ngày 21/7/1981, một cảnh sát điều tra viên của San Francisco đã viết ra một danh sách ngắn những nguyên nhân có thể giải thích làm thế nào người chủ báo 27 tuổi lại bị bắn chết bên ngoài căn hộ của mình. Trong đó có một số nguyên nhân thường thấy như: vì tình, vì tiền,..

Nhưng hồ sơ cảnh sát cũng cho thấy các thám tử đã có lý do để xem xét khả năng khác: chính trị. Lâm và tờ báo của ông được xem là có cảm tình với những người Cộng sản tại Việt Nam, và Lâm đã nhận được những lời đe dọa từ những người trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt vốn coi ông là một kẻ phản bội.



Chỉ trong vài ngày sau cái chết của Lâm, một thư nặc danh được gửi đến tòa soạn Associated Press nói rằng Lâm đã bị trừng trị bởi vì ông ta ủng hộ cộng sản. Vài tuần sau đó, bạn bè của Lâm viết đơn gửi cảnh sát địa phương và FBI, trích dẫn thư này và bày tỏ sự quan ngại rằng việc giết Lâm là một phần của việc mở rộng các hành vi bạo lực với động cơ chính trị.
Tuy nhiên, như các hồ sơ và các cuộc phỏng vấn cho thấy, những người có trách nhiệm đã khước từ ý tưởng này. Dưới sực ép của bạn bè của Lâm, các công tố viên liên bang đã chất vấn FBI rằng liệu vụ giết Lâm phải chăng là "một hành động có thể là khủng bố". FBI trên quan điểm của mình lại cho rằng việc giết chóc này không phải là vì chính trị.

Rốt cục thì các đặc vụ cũng mất nhiều năm để điều tra một chuỗi các tội ác tương tự trong cái "ốc đảo" Việt tại Mỹ - riêng rẽ tại các chi nhánh trên khắp đất nước - trước khi nhận ra sai lầm của họ: Không chỉ có Lâm bị giết vì đã bày tỏ quan điểm của mình, họ buộc phải tin, mà ông ta chỉ là một trong nhiều nhà báo người Mỹ gốc Việt bị sát hại bởi một tổ chức với giấc mơ chiếm lại Việt Nam một ngày nào đó và sẵn sàng thủ tiêu bất cứ ai thách thức nó. Đến lúc đó, FBI nghi ngờ rằng tổ chức này, còn được gọi là Mặt trận, chịu trách nhiệm cho các vụ giết người ở California, Texas và Virginia cũng như một loạt các vụ đốt nhà, đánh đập và đe dọa trên toàn nước Mỹ.

Năm 1995, Cục hợp nhất hơn hai chục vụ vào làm một "vụ án lớn", thành lập một đội điều tra để truy tìm manh mối. Tuy nhiên, nó đã chẳng bao giờ thành công trong việc khởi tố hình sự chống lại Mặt trận vì những hành vi bạo lực của chúng.

ProPublica và Frontline đã xem xét các vụ điều tra của địa phương và liên bang đối với Mặt trận và thấy rằng chúng đã được thực hiện bởi sự thiếu chuyên môn, nguồn lực, sự cần kíp và thậm chí, nhân tiện, là cả sự tò mò căn bản. Các mánh lới đều bị bỏ qua và các manh mối bị phớt lờ. Trong khi một vài điều tra viên đã làm việc một cách nghiêm túc và siêng năng thì lại các nguồn tin quan trọng lại không hề được khai thác. Theo các thám tử đã tham gia vào vụ này thì việc nghe lén, một biện pháp cổ điển cho việc thâm nhập vào tổ chức bí mật, không hề được sử dụng. Các đặc vụ thường phải xin xỏ ngay cả những thứ thiết yếu như người phiên dịch. Một điều cản trở nữa là, từ đầu đến cuối, cuộc điều tra rất hiếm khi được sự để ý của các nhân viên FBI tốt nhất và sáng giá nhất; trong thời đại của những vụ nổi tiếng khác, vụ này chẳng giúp ích gì cho sự nghiệp của bất cứ ai.

FBI đã khép vụ này lại vào cuối những năm 1990. Trong tuyên bố gửi đến ProPublica và Frontline, cục đã nói rằng các nhà điều tra tài năng đã làm việc kiên trì, nhưng đơn giản là họ đã không thể tìm ra đủ bằng chứng để tiếp tục theo đuổi việc truy tố các tội phạm khủng bố. Các cơ quan thực thi pháp luật ở địa phương, bao gồm Sở Cảnh sát San Francisco, thì không đưa ra bình luận gì về vụ này.

ProPublica và Frontline đã phỏng vấn năm người trực tiếp tham gia vào cuộc điều tra của FBI, cũng như các cảnh sát điều tra địa phương. Chúng tôi có được những hồ sơ vụ án 30 năm tuổi và báo cáo điều tra từ bảy vùng lãnh thổ. Chúng tôi đã nói chuyện với ít nhất 10 người được xác định trong các hồ sơ như là những nghi phạm của vụ án.

VOECRN nhận trách nhiệm về việc giết Dương Trọng Lâm. Các nhà điều tra cho rằng đây là tên giả của "Mặt trận"

Đối với các sĩ quan thực thi pháp luật tham gia tường tận vào cuộc điều tra về Mặt trận, sự bất lực trong việc này đã ám ảnh họ. Katherine Tang-Wilcox, một cựu nhân viên FBI, người đứng đầu nhóm điều tra trong nhiều năm, vẫn còn nhớ lại một cách sinh động bản tóm tắt về những hành vi bạo lực và thương tích mà Cục điều tra liên bang cho rằng Mặt trận phải chịu trách nhiệm: các vụ tấn công chuyên nghiệp, các lời miệt thị, dọa giết và tuyên bố nhận trách nhiệm, sự mất mát của gia đình người chết. Bà nói rằng vụ án là một ung nhọt đối với bà và dẫn đến việc nghỉ hưu của bà. Nhưng bà ấy không nghĩ rằng vụ án cần phải đóng lại.

"Liệu họ có nên mở lại vụ án nếu có những thông tin mới được phát hiện?" - Tang-Wilcox nói. "Bởi vì nếu một người đi về phía trước, điều đó sẽ khuyến khích những người khác đi về phía trước. Có những người biết ai là kẻ chịu trách nhiệm cho từng và tất cả các hành vi này. Có những người biết điều đó. Và tội giết người thì không thể có hiệu lực.".

***

Dương Trọng Lâm bị bắn vào ngực lúc hơn 11 giờ sáng ngay trên đường phố của khu phố Tenderloin, San Francisco. Ông loạng choạng bước thêm khoảng 6m trước khi đổ gục xuống ven đường. Theo lời nhân chứng thì có những tiếng la hét, và một, cũng có thể là hai, người đàn ông châu Á đã bỏ trốn khỏi hiện trường.

Gia đình và bạn bè của Lâm nhanh chóng nói với các thám tử rằng Lâm không thiếu kẻ thù. Tờ báo ủng hộ Cộng sản của ông bị nhiều người ghét. Ông đã bị đe dọa trong suốt nhiều tháng. Em gái của ông, Nancy Dương, cũng đã bị đe dọa, khi một người đàn ông đã chĩa súng vào đầu cô.

"Họ nói, 'Mày là đồ Việt Cộng! Hãy cút khỏi đất nước này'." - Nancy Dương nhớ lại.

Napoleon Hendrix và Earl Sanders là những thám tử của Sở cảnh sát San Francisco được giao phụ trách vụ án của Lâm. Họ đã không nghĩ nhiều về ý tưởng rằng giết Lâm là một động cơ chính trị.

"Nếu đó là một vụ ám sát chính trị", Sanders nói với một tờ báo địa phương trong năm 1981, "những gã này nên trở về trường học lại."

Hendrix và Sanders đã mải mê với ý tưởng rằng vụ giết người là kết quả của một cuộc tranh chấp về tiền bạc. Họ bắt và buộc tội một người đàn ông là nhân viên thu ngân và bồi bàn tại một nhà hàng do Lâm sở hữu. Nhưng cáo buộc này thất bại và bị bác bỏ bởi một thẩm phán.

Nancy Dương cho biết, ngay từ đầu, cô đã nói với các nhà điều tra rằng quan điểm chính trị của Lâm nhiều khả năng là nguyên nhân cái chết của ông. Cô thông báo cho họ về những mối đe dọa và các cuộc gọi điện thoại đến nhà cô ấy tuyên bố nhận trách nhiệm về cái chết của ông.

"Tôi đã cố gắng tất cả mọi thứ," cô nói, "để cung cấp cho họ thông tin."

"Tôi không nghĩ rằng họ phải cần nhiều đến vậy."

Các cơ sở trong câu chuyện cuộc đời của Lâm đã chỉ rõ nơi để bắt đầu việc tìm kiếm kẻ giết ông ta.

Lâm rời Việt Nam vào năm 1971 trong lúc cuộc chiến tranh đang tơi tả. Khi đến Mỹ, ông theo học tại trường Cao đẳng Oberlin Ohio và, sau đó, tại Đại học California, Berkeley. Đó là những ngôi trường tự do, và là một sinh viên, Lâm phản đối sự xung đột đẫm máu tại Việt Nam. Sau đại học, ông thẳng tiến đến San Francisco - ông đã có một mớ tóc hippie xù xì và một chiếc Volkswagen ọc ạch - nơi ông thuê một căn hộ rẻ tiền và đắm mình vào một loạt các dự án, bao gồm những gì sẽ trở thành tờ nguyệt san của ông ta, Cái Đình Làng.

Ông xuất bản tờ báo, vốn ủng hộ chiến thắng của chế độ cộng sản Hà Nội, vào mùa hè năm 1980. Ông mô tả tờ báo tiếng Việt của mình như một tập san của "thông tin" và "hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa." Những câu chuyện không phải luôn luôn lấp lánh; một số báo nổi bật trên trang đầu là bài tường thuật một hội nghị giữa các nhà lãnh đạo của Việt Nam, Campuchia và Lào.

Tuy nhiên, những thông tin như vậy là kích động đối với nhiều người trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Những ký ức về chiến tranh còn nguyên vẹn; những người có cảm tình với Hà Nội đều bị ghê tởm.
Dương Trọng Lâm

Nguyễn Đăng Khoa đã từng chiến đấu trong chiến tranh, và ông đã tham gia một nhóm của Mặt trận ở Oakland, California. Trong một cuộc phỏng vấn, chúng tôi hỏi ông ta về phản ứng của ông đối với vụ án mạng của Lâm.

"Tất nhiên tôi đã ngây ngất. Tôi đã rất hạnh phúc" - ông ta nói.

Không có gì ngạc nhiên, Lâm đã bị đe dọa nhiều lần trong cái năm duy nhất mà tờ báo của mình tồn tại. Một người bạn của ông, cũng như em gái của ông, đã nói điều này với các nhà điều tra.

"Trước khi anh ấy chết, khoảng hai tháng, anh biết không, anh ấy liên tục nhận được nhiều cuộc gọi điện thoại, rất nhiều bức thư cảnh cáo" - người bạn nói với cảnh sát. "Tôi nghĩ rằng có một số tổ chức đằng sau nó."

Hendrix và Sanders, hai thám tử địa phương, đã cố gắng hiểu sự vận động ngầm và sự tức giận trong lòng Tiểu Sài Gòn . Nhưng bản ghi các cuộc thẩm vấn mà họ đã tiến hành cho thấy sự bực tức của họ - với những người không nói cùng ngôn ngữ, hoặc những người mà họ cho rằng không nói thật.

Jayson Wechter, một thám tử tư nổi tiếng ở San Francisco đã kiểm tra vụ án mạng của Lâm trong đầu những năm 1980, đã viết về những khó khăn như vậy trong một bài báo cho tạp chí Luật sư California.

Đến từ một đất nước "với một hệ thống pháp lý nổi tiếng là tham nhũng, người Việt đem theo một định kiến mang tính lịch sử chống lại chính quyền và những người thực thi pháp luật", Wechter viết. Vào thời điểm đó, ông đã chỉ ra, California chỉ có một sĩ quan cảnh sát nói tiếng Việt, một cựu lính thủy đánh bộ đã tham gia cuộc chiến.

Trên khắp cả nước, những câu chuyện cũng hệt như vậy. Ví dụ, tại Houston, không có người Mỹ gốc Việt nào tham gia vào việc điều tra ban đầu của cảnh sát trong vụ sát hại chủ báo Đàm Phong năm 1982. Cuộc điều tra sau đó của FBI cũng lúng túng bởi các vấn đề tương tự. Các đặc vụ tham gia vào những vụ án liên quan đến Mặt trận không thể nói được tiếng Việt; các hồ sơ rải rác những thông báo của các thám tử yêu cầu cục thuê thêm phiên dịch.

Năm 1984 có một lời kêu gọi "thuê gấp các nhà ngôn ngữ học". Sáu năm sau đó, một bản ghi nhớ cho thấy đặc vụ chuyên trách của văn phòng tại San Francisco vẫn yêu cầu trụ sở giúp đỡ. Ông ta viết: "Hiện nay chưa có ai, cả đặc vụ chuyên trách lẫn nhân viên hỗ trợ tại đơn vị San Francisco, có khả năng dịch tiếng Việt sang tiếng Anh. Do đó, không có cơ sở để từ đó tìm kiếm một nhà ngôn ngữ học.".

"Có một rào cản văn hóa, và mọi người sợ nói" - Trang Q. Nguyễn, một nhà tư vấn cho các đơn vị truyền thông Việt ngữ ở Nam California, nói.

Một số trong những người đó - cho dù ở San Francisco hay Houston, San Jose hoặc Virginia - không phải sợ nói chuyện với cảnh sát mà sợ Mặt trận phát hiện ra họ đã khai báo với cảnh sát.

Đoàn Văn Toại, một nhà văn và nhà hoạt động, bị bắn vào mặt năm 1989 tại Fresno, California. Tay súng đã chẳng hề bị bắt, và Toại hiếm khi nói công khai về trường hợp của ông. Nhưng trong một cuộc phỏng vấn gần đây với ProPublica và Frontline, Toại cho biết các nhà chức trách đã hoàn toàn không sẵn sàng để điều tra trường hợp của ông và những vụ tương tự. Điều đó cho thấy rằng, ông hiểu những gì họ đang chống lại.

Về người dân trong cộng đồng Việt, Toại cho biết, "Họ không bao giờ hợp tác."

Hơn nữa, vụ giết Lâm là trong giai đoạn đầu của chiến dịch sử dụng bạo lực của Mặt trận, và cuộc điều tra về nó dường như đã thiếu sự cố gắng cơ bản nhất. Bạn bè và người thân của ông đã báo cáo về các mối đe dọa bằng điện thoại đến Lâm, và sau này là các cuộc gọi đến gia đình ông ta từ những người tự xưng là đã giết ông ta. Chẳng hề có bằng chứng trong hồ sơ vụ án cho thấy các điều tra viên đã kiểm tra danh sách điện thoại của Lâm, hoặc những người như em gái ông ta.

Vài tuần sau vụ giết người, các thám tử ở San Francisco nhận được một mảnh giấy viết tay ghi rõ họ tên của nghi phạm, kèm theo địa chỉ và số điện thoại. Nghi phạm được miêu tả là một cựu sỹ quan cảnh sát VNCH, người đã từng tiến hành thẩm vấn những người bị tình nghi là cộng sản ở Sài Gòn. Tờ giấy còn nói người này hiện là một thành viên của một tổ chức quân sự chống Cộng: Mặt trận.

Các thám tử San Francisco đã có thông điệp được dịch sang tiếng Anh. Nhưng họ đã không hề truy lần theo manh mối này. Trong hồ sơ vụ án giết người dày hàng trăm trang, không hề có dấu hiệu về việc các thám tử đã từng thẩm vấn người bị chỉ điểm trong đơn tố giác viết tay.

ProPublica và Frontline đã phát hiện người này ở San Jose và phỏng vấn ông ta. Ông ta cho biết đúng là ông ta từng là một sĩ quan cảnh sát ở Sài Gòn. Nhưng ông ta khẳng định rằng ông ta không tham gia vào Mặt trận và không giết Lâm.
Khi được hỏi liệu ông đã từng nói chuyện với cảnh sát San Francisco về việc vụ giết người này, ông đã trả lời một cách nhanh chóng: "Không". Ông cho biết ông chỉ có một cuộc nói chuyện ngắn gọn với các nhân viên FBI khoảng 15 năm sau vụ án mạng.

Dù người đàn ông này có hay không liên quan đến cái chết của Lâm thì thực tế là các nhà chức trách đã vứt bỏ một manh mối hoàn toàn chưa được tìm hiểu mặc cho nỗi đau gặm nhấm gia đình và bạn bè của Lâm suốt một thời gian dài.
Nancy Dương, em gái của Dương Trọng Lâm, cho đến giờ vẫn chưa biết ai là kẻ giết anh mình.

Những người ủng hộ Lâm cuối cùng đã bắt đầu khẩn cầu FBI và các công tố viên liên bang vào cuộc. Họ khẳng định rằng không chỉ vụ giết Lâm dính líu đến chính trị, mà còn một loạt các hành vi bạo lực đã được thực hiện đối với những người mong muốn một mối quan hệ bất bạo động với Cộng sản Việt Nam. Cuối cùng, họ đã viết thư trực tiếp cho Joseph Russoniello và sau đó văn phòng chưởng lý Hoa Kỳ ở San Francisco, nói rằng vụ án đã được thực hiện một cách "cẩu thả" bởi các điều tra viên San Francisco, "những người đã từ chối điều tra động cơ chính trị tiềm năng trong các vụ giết người."

Russoniello đã gửi một bức điện cho FBI, hỏi liệu có bất kỳ lý do gì để tin rằng việc giết Lâm là một hành động khủng bố hay không. Một đặc vụ cấp cao của FBI đã đến văn phòng của ông ta để cam đoan với ông ta là không có.

FBI đã bị mắc kẹt vào kết luận đó ngay cả sau khi nhiều nhà báo đã thiệt mạng vì những gì dường như là vụ ám sát chính trị. Khi chủ bút Phạm Văn Tập đã bị ám sát tại miền Nam California năm 1987, các đặc vụ liên bang ở Los Angeles đã thấy sự tương đồng giữa án mạng của ông này với của Lâm. Họ đã liên hệ với các đồng nghiệp tại San Francisco để yêu cầu các hồ sơ về vụ giết Lâm.

"Cuộc điều tra của SFPD và FBI đã xác định rằng vụ giết Lâm là vì những lý do cá nhân và thiếu bằng chứng cho thấy có bất cứ động cơ chính trị nào", một điều tra viên ở San Francisco đã viết lại như vậy. Được soạn thảo bởi một thành viên của một đội chống khủng bố FBI, các bản ghi nhớ đã được đánh dấu là "bí mật" và được gửi đi vào tháng mười hai năm 1987. FBI đã biên tập lại tên của đặc vụ này trước khi giải mật các tài liệu và giao nó cho ProPublica và Frontline.

Hiện tại, Nancy Dương giữ một bức ảnh đen trắng của anh trai mình bên cạnh một bàn thờ Phật nhỏ. Trong ảnh, Lâm còn trẻ và đang mỉm cười.

"Tôi không biết những gì đã xảy ra với anh trai của tôi," cô nói, "ngay cả bây giờ."

***

Nếu FBI lúng túng trong việc giải quyết các tội ác riêng lẻ nghi ngờ có bàn tay của Mặt trận, còn có một cách khác để cơ quan này có thể dựng một vụ án chống lại tổ chức này.

Đạo luật trung lập của Mỹ (Neutrality Act) quy định về tội ác liên bang đối với bất kỳ công dân Hoa Kỳ hoặc người cư trú nào hỗ trợ tài chính hoặc tham gia "bất kỳ cuộc viễn chinh quân sự hay hải quân" (“any military or naval expedition”) chống lại một nhà nước "mà đang trong trạng thái hòa bình với Hoa Kỳ" (“with whom the United States is at peace.”).

Mặt trận chưa từng cố gắng để che giấu thực tế là nó đang thực hiện các hành vi vi phạm đạo luật.

Nó tổ chức các sự kiện công cộng ở các thành phố trên khắp đất nước, khẩn cầu người tham dự quyên tiền cho nỗ lực chiến tranh của mình. Những bức ảnh về "biểu tình kháng chiến" tại Santa Ana, California, Los Angeles và Washington DC, cho thấy những đám đông khổng lồ tụ tập để ủng hộ. FBI cũng thấy rằng Mặt trận đã trực tiếp đăng quảng cáo trên báo chí Việt ngữ, quyên tiền để mua vũ khí; viết một tấm séc cho tổ chức - các quảng cáo hứa hẹn - sẽ giúp họ trang bị các loại vũ khí như súng trường tấn công và tên lửa vác vai.

Và sau đó là có căn cứ quân sự của tổ chức này được thành lập ở Thái Lan, để từ đó nó sẽ cố gắng xâm phạm Việt Nam. Hình ảnh và đoạn phim về việc huấn luyện tại căn cứ đã được sử dụng để kiếm nhiều tiền hơn nữa, và một đoạn phim ngắn nổi bật trong một câu chuyện về tham vọng quân sự của Mặt trận phát sóng toàn quốc trên truyền hình CBS.
Hoàng Cơ Minh tại căn cứ.

Nhưng xem xét lại hàng ngàn trang hồ sơ điều tra của FBI, cũng như các cuộc phỏng vấn với các cựu thám tử và công tố viên, chẳng hề có thảo luận nghiêm túc nào về hành vi vi phạm đạo luật trung lập, ngay cả sau khi FBI đã nghi ngờ Mặt trận đang thực hiện các vụ ám sát trên đất Mỹ .

ProPublica và Frontline đã hỏi FBI và văn phòng chưởng lý ở San Francisco rằng tại sao Mặt trận chưa bao giờ bị khởi tố vì hành vi kiếm tiền với mục đích lật đổ chính phủ của Việt Nam. Cả hai đều không có câu trả lời nào.

Tang-Wilcox, một trong những đặc vụ hàng đầu trong cuộc điều tra về Mặt trận, nói rằng bà không nghĩ một trường hợp như vậy sẽ khả thi trong tình hình chính trị của những năm 1980.

Vào thời điểm đó, Mỹ đã cam kết với cái gọi là Học thuyết Reagan, theo đó Mỹ sẽ ủng hộ các phong trào chống Cộng có vũ trang. Mỹ đã ủng hộ quân nổi dậy chống Liên Xô ở Afghanistan, một đội quân đánh thuê trong cuộc nội chiến Angola, nhóm Contras chiến đấu ở Nicaragua.

Eugene Kontorovich, một giáo sư tại Đại học Luật Northwestern, người đã viết rất nhiều về Đạo luật trung lập, cho biết ông không ngạc nhiên khi không có cáo buộc nào được thực hiện đối với Mặt trận. Theo ông, việc truy tố vì Đạo luật trung lập là cực kỳ hiếm, ngay cả khi các cá nhân và các nhóm đang vi phạm rõ ràng "cốt lõi của những gì mà đạo luật nghiêm cấm". Ông nói rằng sự hiếm hoi của những vụ này có thể là do nỗ lực tạo ra một lối mở cho việc truy tố có chọn lọc .

Đối với trường hợp Đạo luật trung lập, Kontorovich cho biết, "không công tố viên nào sẵn sàng trở thành kẻ tiên phong cả".

Mặc dù các công tố viên liên bang đã không hành động dựa trên bằng chứng về việc Mặt trận đã vi phạm Đạo luật trung lập, các hồ sơ và tài liệu thẩm vấn cho thấy một loạt các cơ quan liên bang - Bộ Ngoại giao, CIA, Bộ Quốc phòng - đã nhận thức rõ về hoạt động và mục đích của tổ chức này.

Trên thực tế, theo một cuộc phỏng vấn với một cựu nhân viên Bộ Ngoại giao về hưu và cuốn hồi ký của một cựu lãnh đạo Mặt trận, Hoàng Cơ Minh, lãnh đạo của Mặt trận và là người đã giám sát trại huấn luyện của tổ chức này ở Thái Lan, đã gặp gỡ với một quan chức Bộ Ngoại giao (Mỹ) ở Bangkok để thảo luận về kế hoạch xâm phạm Việt Nam của ông ta. Nhưng người quan trọng nhất trong chính quyền Mỹ mà Mặt trận từng liên lạc là Richard Armitage.

Armitage là một người có một khoảng thời gian lâu dài và sâu sắc ở Việt Nam. Ông ta từng là một sĩ quan trong lực lượng Hải quân Mỹ trong chiến tranh, đã gặp và kết bạn với Minh trong năm 1970. Armitage sau đó đã được giao nhiệm vụ hỗ trợ việc di tản của Hải quân VNCH và các sỹ quan của nó khi sự sụp đổ của Sài Gòn đang dần hiện rõ. Armitage sau đó trở thành một quan chức cấp cao trong Bộ Quốc phòng của chính quyền Reagan, giám sát chính sách cho khu vực Đông Nam Á. Ông ta cũng từng là một thứ trưởng ngoại giao thời George W. Bush.

FBI đã phỏng vấn Armitage trong vụ điều tra về Mặt trận. Thực chất của bài phỏng vấn năm 1991 đã được viết trong một biên bản ghi nhớ, được biết đến trong cách nói của FBI là tài liệu 302. Armitage nói với FBI rằng ông ta tiếp tục giữ mối quan hệ bè bạn với Minh trong nhiều năm sau khi ông này tới Mỹ năm 1975. Ông cũng nói với FBI rằng ông tin rằng Mặt trận có khả năng ám sát chính trị, và rằng ông đã nghe tin đồn rằng Mặt trận đã thực sự thực hiện các vụ giết người như vậy ở Mỹ.
Hồ sơ FBI tóm tắt cuộc thẩm vấn của các nhà điều tra với Armitage năm 1991.

Armitage không đồng ý trả lời phỏng vấn với ProPublica và Frontline. Tuy nhiên, ông đã trả lời cho các câu hỏi bằng văn bản. Armitage đã viết rằng ông đã coi Minh "một trong những sĩ quan tốt nhất" ông đã gặp ở Việt Nam. Ông khẳng định rằng ông đã nói với FBI về những tin đồn về những vụ giết người của Mặt trận ở Mỹ nhưng thừa nhận rằng ông đã không hề thông báo với bất kỳ người thực thi pháp luật nào về những tin đồn này trước khi có buổi thẩm vấn năm 1991.

Armitage nói với ProPublica và Frontline rằng ông đã xem ý tưởng của Minh về việc xâm lược Việt Nam là một "trò vặt vãnh của một thằng ngốc" (a fool's errand). Nhưng, Armitage cho biết, ông cũng đã hỗ trợ cho Minh một số việc khi những đầu lĩnh thiết lập căn cứ của họ tại Thái Lan: Armitage cho biết ông ta đã tiến cử Minh với các đối tác Thái Lan của mình.

ProPublica và Frontline không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ đã tài trợ cho Mặt trận. Thật vậy, Armitage đã cho biết ông ta đã làm rõ với các quan chức Thái Lan rằng Hoa Kỳ không có chương trình chính thức nào để hỗ trợ cho các mục đích quân sự của Minh.

Tuy nhiên, sự giúp đỡ Armitage dường như đã có kết quả: Một tướng Thái tên là Sutsai Hatsadin đã trở thành người bảo trợ của Mặt trận, cho phép Minh thiết lập cơ sở du kích của mình trên một mảnh đất xa xôi trong khu rừng rậm ở Đông Bắc Thái Lan, gần sông Mekong và biên giới với Lào.

Tọa lạc trên đỉnh một ngọn đồi, căn cứ của Minh cách ngôi làng gần nhất sáu giờ hành quân. Trong khoảng thời gian đó, ông ta và những người của mình đã dọn sạch cây cối và xây dựng các khu nhà thô sơ bằng gỗ. Ông đã lôi kéo được vài trăm người đến khu trại, huấn luyện họ chiến thuật du kích và trang bị cho họ vũ khí hạng nhẹ và quân phục.

Một tài liệu giải mật năm 1984 của CIA nói rằng Minh và đội quân của ông ta đã được tài trợ bởi tiền đóng góp của người tị nạn Việt Nam cũng như "sự hỗ trợ khiêm tốn bí mật từ 'nhân tố nào đó' của Quân đội Hoàng gia Thái Lan". Tiền Mặt trận huy động ở Mỹ được chuyển đến Thái Lan định kỳ bằng bưu điện.
Các cựu chiến binh "Mặt trận" cho biết
Hoàng Cơ Minh đã giết khoảng chục
người lính của mình tại căn cứ.

Theo các cuộc phỏng vấn với các thành viên Mặt trận cũng như các binh sĩ chống cộng khác trong cùng khu vực thời đó, việc gây quỹ của tổ chức này đã cho phép nó có thể mua nhiều loại vũ khí hạng nhẹ như súng AK-47, súng M16 và tên lửa chống tăng M72. Kế hoạch của Minh là di chuyển về phía đông, vượt sông Mekong và băng ngang qua nước Lào trước khi xâm nhập vào Việt Nam.

Sau một chuyến xe tải đường dài trên một loạt các con đường bùn đất trơn trượt, xuyên qua các vùng nông thôn Thái Lan, ProPublica và Frontline tìm thấy một trong những đồng minh cũ của Minh, người Lào, đang sinh sống tại một làng ở nông thôn. Người đó nói Minh rất tàn bạo trong việc trừng phạt những người mất lòng tin vào sứ mạng. Người chiến binh Lào, đã từng cùng với năm người khác đã gia nhập Mặt trận và lặn lội đến căn cứ ở Thái Lan, nói rằng Minh đã xử tử phải đến 10 người lính của mình vì bất phục tùng hoặc thiếu sự tận tụy. Có thể một hoặc nhiều trong số họ là công dân Hoa Kỳ.

FBI đã nhận được ít nhất một báo cáo về các vụ giết người trong khu trại này. Năm 1986, một thành viên của Mặt trận đã đào thoát và liên lạc với văn phòng cục điều tra liên bang tại Honolulu, nói với các đặc vụ rằng có hai tân binh đã bị giết tại trại. Không rõ là FBI đã làm với các thông tin này.

***

Bản cáo trạng công bố vào ngày 10 tháng 4 năm 1991 bởi các công tố viên liên bang ở San Jose có vẻ như là cơ hội để cuối cùng có thể kết thúc chiến dịch khủng bố của Mặt trận. Năm cán bộ của Mặt trận đã bị cáo buộc lấy hàng chục ngàn đô-la vốn dùng để gây chiến tranh ở nước ngoài để tiêu xài cá nhân, và cũng không trả thuế cho số tiền đó. Bản cáo trạng ghi rõ: "Các khoản đóng góp đã được chuyển thành thu nhập cho các bị cáo, mà họ không hề báo cáo hoặc giải thích cho cơ quan thuế vụ". Hai trong số các bị cáo phải đối mặt với 20 năm tù giam. Một người bị xem xét mức án 15 năm.

Doug Zwemke, một cựu sỹ quan cảnh sát San Jose đã giúp các công tố viên liên bang xử lý vụ thuế má này, cho biết các bị cáo đã đề nghị đánh đổi việc họ sẽ cung cấp thông tin về các tội ác của Mặt trận đối với các nhà báo và những người khác để đổi lấy mức án nhẹ hơn.

"Tội phạm là con người còn kẻ chỉ điểm là thiên thần!" - Zwemke nói.

"Vì vậy, bạn có thể thỏa thuận với họ, và họ có thể ra đi" - Zwemke nói. "Và sau đó bạn sẽ bắt đầu với cả một tổ chức."

Ông ta nói, rất có thể các nhà chức trách đã nhận thông tin trên, và sau đó là bản cáo trạng về "các sát thủ, những kẻ giết người."

"Nó có thể mở ra nhiều cánh cửa," Zwemke nói.

Vụ án đã bế tắc trong nhiều năm và nó đã bắt đầu với một manh mối từ một trong những người cung cấp thông tin của Zwemke tại San Jose, một trung tâm của người Mỹ gốc Việt.
Vụ án về thuế năm 1990 đã đem lại hy vọng cho các nhà điều tra để giải quyết vụ khủng bố và tổ chức ám sát này.

Cùng làm việc với FBI và Zwemke, các cán bộ thuế vụ đã chịu khó truy tìm đường đi của tiền khi nó di chuyển qua một mớ tài khoản ngân hàng do Mặt trận kiểm soát và các doanh nghiệp từ năm 1984 đến 1987. Tiền đổ vào các tài khoản ngân hàng của Mặt trận tại California đến từ những người đóng góp trên khắp thế giới. Tổ chức này đã chuyển một khoản tiền lớn đến Bangkok, có lẽ được dùng cho những người lính ở Thái Lan. Nhưng một số tiền bị cáo buộc thất thoát trong các tài khoản cá nhân của những chỉ huy hàng đầu của Mặt trận, bao gồm cả em trai của Minh, Hoàng Cơ Định, người có đến ba bí danh. (Định đã từ chối nói về vụ việc này với ProPublica và Frontline.)

Các thành viên Mặt trận bị truy tố khẳng định họ vô tội.

Một phần trong việc bảo vệ họ, các luật sư của họ lập luận rằng các thành viên Mặt trận phải được miễn tố vì họ đã ký một thỏa thuận bí mật với CIA và Bộ Quốc phòng. Để đổi lấy sự giúp đỡ của họ trong việc xác định các tù nhân Mỹ ở Việt Nam, các cơ quan này đã cho phép Mặt trận làm bất kỳ điều gì họ muốn với số tiền kiếm được ở Mỹ. Các công tố viên đã chế giễu yêu cầu này. Một luật sư bào chữa, trong cuộc phỏng vấn gần đây, mặc dù khẳng định có bằng chứng để chứng minh cho quyền lợi của người bị truy tố này lại không tiết lộ cũng không nói thêm gì về nó.

ProPublica và Frontline đã tìm cách để có được toàn bộ hồ sơ vụ án để dựng lại những gì đã xảy ra. Đáng ngạc nhiên, nhân viên tại tòa án liên bang ở San Jose và San Francisco cho biết các hồ sơ đã bị mất, và Trung tâm dữ liệu liên bang, trong đó lưu trữ các hồ sơ tòa án cũ, cũng không thể tìm thấy các tài liệu này.

Văn phòng chưởng lý tại San Francisco hiện nay cũng không bình luận về vụ việc. Cả Bộ Quốc phòng Mỹ và CIA cũng đều từ chối nói về Mặt trận.

Vài hồ sơ tòa án sót lại, cũng như các cuộc phỏng vấn với một số những người liên quan, cho thấy vụ việc đã được đóng lại rất bất ngờ.

Ngày 04 Tháng 1 năm 1995, khoảng bốn năm sau khi bản cáo trạng đã được công bố, Thẩm phán James Ware đã tổ chức một buổi điều trần theo đề nghị của các luật sư bào chữa cho các thành viên của Mặt trận. Các luật sư cho rằng khách hàng của họ đã bị từ chối quyền được xét xử nhanh. Các thẩm phán, xấu hổ, thừa nhận rằng họ đã đúng, và bác bỏ vụ án.

Zwemke nói rằng ông được thông báo về việc bác cáo trạng qua một cuộc gọi điện thoại từ văn phòng của công tố viên. Vị trợ lý văn phòng chưởng lý đã nói ít hơn thường lệ, "Xin lỗi, tôi đã không xem đồng hồ" - Zwemke nhớ lại.

"Các anh giỡn với tôi à?!"

Các công tố viên xác định họ không thể làm lại vụ án - còn rất nhiều cáo trạng còn tồn đọng từ cả chục năm trước và các cán bộ thực thi pháp luật cho biết cánh cửa pháp lý cho các vụ mới đã khép lại. Các nhà điều tra đã kết luận rằng việc tìm kiếm bằng chứng mới hơn sẽ rất khó khăn, khi mà Mặt trận đã hoàn thiện sổ sách kế toán của mình.

"Họ đã bắt đầu cẩn thận về những gì họ đang làm, do đó, những sơ hở trên giấy tờ trước đây, bây giờ sẽ không còn nữa" - Tang-Wilcox, cựu nhân viên FBI cho biết.

Theo bà, cơ hội mà bà chờ đợi, một vụ việc có thể làm rạn nứt Mặt trận, "đã ra đi".
Zwemke, sỹ quan cảnh sát San Francisco về huu

Zwemke bị suy sụp. Bên cạnh những vấn đề khác, người đầu tiên cung cấp thông tin cho ông đã bị giết chết trong quá trình điều tra.
"Cho dù ông ấy bị giết vì đã giúp tôi hay bởi Mặt trận, kẻ giết người đã không bao giờ bị bắt." Zwemke nói.

Theo hồ sơ của FBI, tin tức về việc cáo trạng bị bác bỏ đã "tạo một làn sóng kích động" đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt vốn đã hoài nghi về mức độ quan tâm của lực lượng thực thi pháp luật Mỹ đối với các hành vi bạo lực của Mặt trận. Cục kết luận rằng kết quả của vụ việc - dựa trên "một biện pháp kỹ thuật trong vận dụng luật" - chỉ đem lại sự hoài nghi sâu sắc đối với những người Mỹ gốc Việt.

***

Cuối năm 1995, Louis Freeh, giám đốc của FBI bấy giờ, đã tới thăm văn phòng ở San Francisco, nơi Tang-Wilcox đang miệt mài trong việc theo đuổi vụ án của Mặt trận. Trong nhiều năm, thường là làm việc một mình, bà đã kéo về cả núi hồ sơ từ các đặc vụ trên toàn quốc, và lùng sục để tìm ra mối liên hệ giữa tổ chức này với hàng tá tội ác.

Cuối cùng, Tang-Wilcox cho biết, trong một buổi tiếp kiến với Freeh, bà đã trực tiếp khẩn cầu ông ta ngay trước đặc vụ khác: Hoặc cho tôi đủ nguồn lực để theo đuổi vụ này hoặc là đóng nó lại.

Gần 15 năm sau khi vụ án mạng của Lâm đưa ra dấu hiệu ban đầu về phương sách của Mặt trận, Freeh quyết định để tâm đến tổ chức này. Cuộc điều tra được chính thức công bố là một "vụ án lớn" về tội phạm có tổ chức và các căn cứ khủng bố trong nước, một động thái giúp cho vụ việc được bổ sung thêm các đặc vụ khác.

Kết hợp với khoảng nửa tá đặc vụ được bổ sung, Tang-Wilcox đã làm được nhiều công việc đáng kể. Bà đến Pháp để phỏng vấn một nhà văn, người đã bị đánh đập đến hôn mê tại Quận Cam ở Little Saigon vào năm 1988. Ở Washington, DC, đồng nghiệp của bà đã tiến hành khoảng 200 cuộc thẩm vấn về các vụ án mạng của Lê Triết và Đỗ Trọng Nhân, những đồng nghiệp tại tạp chí Tiền Phong bị giết hại. magazine. Phòng thí nghiệm tội phạm của cục đã kiểm tra lại các bằng chứng pháp ly thu thập từ những năm trước bởi cảnh sát địa phương tại các khu vực khác nhau; ví dụ, trong vụ án của Lâm, các đặc vụ đã cố gắng tìm ra loại vũ khí phù hợp với các viên đạn được lấy từ cơ thể của ông ta.

Cục đã định mã danh cho cuộc điều tra là VOECRN, theo danh xưng Tổ chức Việt Nam Diệt Trừ Cộng Sản và Phục Hồi Quốc Gia (Vietnamese Organization to Exterminate Communists and Restore the Nation). Các nhà điều tra tin rằng Mặt trận sử dụng tên này để tạo danh tiếng đối với hành vi khủng bố và giết người mà nó thực hiện. Nội dung các tài liệu cung cấp bởi những "nguồn tin" có danh sách những người bị nghi ngờ là "sát thủ", khiến các đặc vụ hoàn toàn tin rằng Mặt trận đã có một "biệt đội tử thần", được biết đến với cái tên "K-9." Vậy là cũng đã có sơ đồ tổ chức của Mặt trận.
Tang-Wilcox, một trong những người chỉ huy cuộc điều tra.

Các tài liệu - từ cả trước và sau khi cuộc điều tra được xem như là một vụ án lớn - cũng cho thấy sự pha trộn giữa sự lạc quan thất thường và sự thất vọng nhất quán của các điều tra viên. Trong một biên bản, một đặc vụ than phiền về "sự phức tạp quá mức" của cuộc điều tra. Một phần của sự phức tạp là do thực tế có những vụ bạo lực trong cộng đồng Việt kiều được thực hiện bởi các băng nhóm và những kẻ tống tiền. Bất kỳ hành động bạo lực đơn lẻ nào, theo các đặc vụ, có thể có nhiều cách giải thích. Và tiếp theo là cái mà biên bản gọi là "sự mất lòng tin vốn có vào lực lượng thực thi pháp luật và chính phủ" trong số người Mỹ gốc Việt.

Trong thâm tâm, các đặc vụ cũng lờ mờ nhận ra cái giá của việc không giải quyết được những tội ác này. Trong một báo cáo viết tay, một đặc vụ ở Los Angeles năm 1991 đã cảnh báo cấp trên về nguy cơ của việc sớm đóng lại cuộc điều tra. Người đặc vụ đó đã viết: "FBI sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng để trả lời các câu hỏi ngay bây giờ hoặc trong tương lai từ các dân biểu và những người vận động hành lang gốc Việt là tại sao cuộc điều tra đã bị đóng lại". Bên cạnh đó, theo đặc vụ này, FBI sẽ phải giải thích tại sao, sau nhiều năm, họ đã không thể tiếp cận vào hàng ngũ lãnh đạo của Mặt trận.

Các cuộc phỏng vấn với các cựu đặc vụ và các công tố viên đã tham gia vụ này cho thấy rằng, bất chấp có sự bổ sung các nguồn lực trong năm 1995, nhiều đặc vụ FBI vẫn coi nó như một vụ vớ vẩn. Một đặc vụ về hưu, người đã tham gia vụ điều tra, mô tả nó như là việc "đuổi theo đàn ngỗng hoang", chẳng được thúc đẩy bằng gì ngoài "thuyết âm mưu". Một cựu đặc vụ với giọng coi thường các nạn nhân, nói rằng các cái kết của họ nói thẳng ra là vì các vấn đề gây tranh cãi nên họ không xứng đáng được thông cảm. Có nhiều hơn một đặc vụ thì chỉ trích cựu lãnh đạo Tang-Wilcox rằng bà đã làm một việc quá tầm.

"Đó không phải là công việc mà mọi đặc vụ đều muốn làm" - Tang-Wilcox thừa nhận.

Thay vào đó, các đặc vụ háo hức tham gia cuộc săn lùng Unabomber, một người vô chính phủ, tác giả một bản tuyên bố 35.000 từ chống lại kỹ thuật - công nghệ và những bom thư gửi đến các nhà điều hành hãng hàng không, các viện nghiên cứu, và những người khác. Các lực lượng làm nhiệm vụ điều tra các vụ đánh bom hàng loạt - ông ta đã giết 3 và làm bị thương 24 người - tăng lên đến hơn 150 nhân viên chuyên trách, nhiều người trong số đó làm việc tại văn phòng cục ở San Francisco. Nhờ có khai báo từ anh trai của kẻ sát nhân, FBI bắt ông ta vào năm 1996.

Những năm mất đại lý liên bang công nhận đầy đủ bản chất chính trị của bạo lực đối với các nhà báo Việt-Mỹ đã tốn kém.

Cuộc điều tra của ProPublica và Frontline cho thấy rằng trong năm 1995, khi FBI liên kết 30 vụ dọa giết và phô trương thanh thế nghi là của Mặt trận với nhau, họ nhận ra rằng 19 trong số các tài liệu gốc hoặc đã không bao giờ được thu thập hoặc bị phá hủy hay bị mất.

Và trong khi hồ sơ FBI cho thấy các đặc vụ thu thập các bản ghi điện thoại của hơn 80 người, Tang-Wilcox cho biết cục điều tra đã không thể có đầy đủ thông tin chi tiết để được chấp thuận việc nghe lén. Các đặc vụ và công tố viên thừa nhận, những thất bại đó là nguyên nhân cho việc mặc dù bồi thẩm đoàn liên bang đã được triệu tập tại khu vực Vịnh San Francisco trong những năm 1980 và một lần nữa vào những năm 1990, đã không có cáo trạng liên quan đến vụ này được đệ trình lên.

Johnny Nguyễn đã xuất hiện trước khi có những bồi thẩm đoàn đó. Trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, theo FBI, Johnny Nguyễn sở hữu một cửa hàng tiện lợi ở Houston và làm việc thời vụ tại một công ty luật địa phương. Ông được biết đến tại Houston như một doanh nhân thành đạt. Ông cũng là một cựu trung sĩ của bộ binh VNCH và một thành viên kiêu hãnh của Mặt trận. Cho đến bây giờ, ông vẫn nói rằng ông tôn kính người sáng lập của Mặt trận, Hoàng Cơ Minh.

FBI, với sự giúp đỡ của Sở Cảnh Sát Houston, đã tìm cách thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về Johnny Nguyễn. Một người cung cấp tin nói với các đặc vụ rằng Johnny Nguyễn là "cầm đầu nhóm sát thủ K-9 của Mặt trận" và đã giết Đàm Phong, một chủ bút ở Houston, "bởi vì ông xuất bản các bài báo chỉ trích Mặt trận và các hoạt động của nó". Các hồ sơ cũng cho thấy, những người cung cấp thông tin khác cũng ủng hộ giả thuyết này, trong đó bao gồm một cựu thành viên của Mặt trận.

Nhiều về bản chất của đại xuất hiện ban giám khảo Johnny Nguyễn không rõ là ai. Các đại lý cũ và các công tố viên đang bị cấm bởi luật pháp thảo luận về nó. Nhưng Johnny Nguyễn tự do thừa nhận ông đã làm chứng, và ông mất việc thiếu các chi phí như là bằng chứng về sự vô tội của mình.

Sau nhiều tháng tìm kiếm, ProPublica và Frontline đã gặp được Johnny Nguyễn, hiện 70 tuổi, mặc một bộ đồ tối màu tại một lễ tưởng niệm hàng năm tại Houston cho Hoàng Cơ Minh. Ông ta nói rằng ông ta chưa từng biết Đạm Phong nữa là làm hại ông này. Ông ta thẳng thừng phủ nhận rằng ông đã từng là một thành viên của K-9.
Johny Nguyễn: "Lũ cảnh sát nhảm nhí"

"Tụi cảnh sát nhảm nhí!" - ông ta nói.

Khi được hỏi liệu Mặt trận có dính líu đến các vụ bạo lực đối với những người chỉ trích nó hay không, Johnny Nguyễn nói, bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh: "Không bao giờ!".

Johnny Nguyễn là một người đàn ông kiêu hãnh. Hiện nay, ông ta đang kinh doanh một trường dạy lái xe. Và mặc dù ông ta thừa nhận mình cần phải gia hạn giấy phép lái xe của bản thân, ông ta vẫn kiên quyết chứng tỏ mình không phải là một người đang bị suy yếu vì tuổi tác. Vào lúc khác, ông ta cởi áo khoác và áo sơ mi ra để khoe khoang bắp tay của mình.

Về những người đã nghĩ rằng ông ta là kẻ giết người, ông ta nói: "Tôi đã bảo họ, 'Được rồi, đi và nói với FBI rằng tôi là K-9. Nói với FBI nhốt tôi lại'. Tôi đã bảo họ là 'Chẳng có nhân chứng, vật chứng gì cả'. "

"Họ chỉ im lặng."

Nỗ lực mới của FBI để làm rạn nứt Mặt trận năm 1995 kéo dài được một vài năm. Cục không nói chính xác khi nào các vụ khủng bố trong nước bị chính thức đóng lại. Nhưng tuyên bố của FBI phản hồi cho những câu hỏi cụ thể của chúng tôi về cuộc điều tra của họ có thể cũng đã được đưa ra từ 20 năm trước:

"Những vụ án này được điều tra bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệm của FBI, những người đã thu thập các bằng chứng và tiến hành nhiều cuộc thẩm vấn, đồng thời hợp tác chặt chẽ với các công tố viên của Sở Tư pháp để xác định những người chịu trách nhiệm về những tội ác và tìm kiếm công lý cho các nạn nhân. Bất chấp những nỗ lực đó, sau 15 năm điều tra, các cán bộ của Bộ Tư pháp và FBI đã kết luận rằng cho đến nay, chưa có đủ bằng chứng để khởi tố vụ án"

Trong cuộc phỏng vấn của bà với ProPublica và Frontline, Tang-Wilcox đã đi xa hơn. Bà bày tỏ sự hối tiếc.

"Tôi cảm thấy tồi tệ," bà nói. "Tôi đã không bao giờ có thể mang lại công lý đến cho họ, mang lại câu trả lời cho các gia đình những nạn nhân."

Với việc điều tra cấp liên bang bị đóng lại, các vụ án giết người - Lê Triết và Đỗ Trọng Nhân tại Virginia, Phạm Văn Tập ở Garden Grove, California, Nguyễn Đạm Phong ở Houston và Dương Trọng Lâm ở San Francisco - đã được giao lại cho cảnh sát địa phương, cho phép họ tiếp tục truy tìm những kẻ giết người nếu họ muốn.

Nhưng không có vẻ gì là các cấp địa phương sẽ hào hứng tiếp tục cuộc điều tra. Sau hàng tháng cố gắng để tìm gặp các thám tử của Sở Cảnh Sát San Francisco đang phụ trách vụ án bị lãng quên về việc Dương Trọng Lâm bị giết, ProPublica và Frontline gần đây đã có một cuộc gọi.
Các thám tử đã chẳng thể nói gì về vụ án. Họ cho biết họ chỉ mới vừa trích lục tài liệu từ kho lưu trữ và đang bắt đầu đọc chúng.
--------
Nguồn: ProPublica và Frontline
Dịch: DLV.VN

Việt Tân: "Kẻ khủng bố ở Tiểu Sài Gòn" - Phần 1: Mặt trận (DLV.vn lược dịch)

Ông ta là Hoàng Cơ Minh. Ông ta có một mớ tóc thưa lộn xộn màu đen than và một bộ ria mép hình sâu bướm. Đó là năm 1983, Minh đã đến một buổi hội nghị ở Washington DC, và đưa ra một tuyên bố: Ông ta có ý định chiếm lại Việt Nam.
Minh, một cựu sĩ quan hải quân của quân đội VNCH, nói với đám đông đang tụ tập rằng ông ta sẽ xây dựng một lực lượng để lật đổ chính quyền Hà Nội và giải phóng quê hương của mình khỏi sự thống trị của Cộng sản.
Hoàng Cơ Minh
Đám đông - hàng ngàn người tị nạn Việt Nam đã trốn khỏi đất nước sau khi Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975 - bùng lên tán tụng, thậm chí một số người mừng rơi nước mắt. Trong bộ đồ đen và một chiếc khăn kẻ sọc dài quấn quanh cổ của mình, Minh mỉm cười mãn nguyện và đắm mình vào cơn ngây ngất của khán giả. Video của sự kiện này cho thấy Minh đã đấm cả hai tay vào không khí và vẫy khí thế như một nguyên thủ quốc gia.



Minh đã bắt đầu xây dựng đội quân du kích của mình vài năm trước đó. Nó được gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”. Tổ chức này đã thiết lập một căn cứ trong vùng rừng núi ở Đông Nam Á - một địa điểm bí mật trong tầm đánh của Việt Nam - và xây dựng một mạng lưới các chi hội trên khắp nước Mỹ để quyên tiền cho các cuộc xâm nhập sắp tới.

Những chi hội ở Mỹ, có vẻ như, đã mở rộng thành một mặt trận thứ hai, lần này là ở Mỹ: các thành viên “Mặt trận” sử dụng bạo lực để bịt miệng người Mỹ gốc Việt dám nghi ngờ quan điểm chính trị hay mục tiêu của tổ chức. Việc kêu gọi bình thường hóa quan hệ với những người Cộng sản chiến thắng để trở về nhà là đủ để xứng đáng với một trận đòn hoặc, trong một số trường hợp, là một bản án tử hình.

Thực tế, FBI đã mở một cuộc điều tra về khủng bố trong nước nhắm vào các hoạt động của “Mặt trận”. Hàng ngàn trang hồ sơ FBI mới được giải mật mà ProPublica và Frontline tìm được cho thấy các điều tra viên đã nghi ngờ rằng nhóm của Minh đã dàn dựng các vụ sát hại nhà báo Mỹ gốc Việt, cũng như một loạt các vụ đánh bom, tấn công và đe dọa giết người.

Trong một biên bản chưa từng được công bố, một điều tra viên FBI đã mô tả điều đó đơn giản rằng: “Mặt trận”, điều tra viên viết, đã "thực hiện một chiến dịch để dập tắt tất cả các phe chống đối nó."

Phạm vi của các hành vi khủng bố khá rộng lớn. Các nhà báo đã bị giết ở Texas, California và Virginia. Một chuỗi các vụ hỏa hoạn có chủ ý trải dài từ Montreal đến quận Cam, California. Các lời đe dọa giết người đã được gửi đến cho các cá nhân, gia đình và các doanh nghiệp trên cả nước. Và các nhà điều tra tin rằng “Mặt trận” cũng đã tuyên bố nhận trách nhiệm trong việc gây ra tội ác này.

Tuy nhiên, trong khoảng 30 năm sau đó, FBI đã chẳng hề bắt giữ bất kỳ ai vì các hành vi bạo lực hay khủng bố, hay ít ra là xử phạt và buộc tội họ. Hết lần này đến lần khác, các cơ quan cảnh sát địa phương đã mở cuộc điều tra để rồi kết thúc không kết quả. FBI lặng lẽ đóng lại cuộc điều tra của mình vào cuối năm 1990, khiến cho đây trở thành một trong những trường hợp khủng bố trong nước quan trọng nhất không được giải quyết.

Để dựng lại sự kiện lịch sử này, vốn bí ẩn với đa số người Mỹ, ProPublica và Frontline đã tìm kiếm và nghiên cứu kỹ lưỡng các hồ sơ sự vụ của FBI, cũng như các hồ sơ của các cơ quan thực thi pháp luật địa phương ở Houston, San Francisco và các vùng ngoại ô Washington, D.C. Chúng tôi theo dấu các cựu điều tra viên của cảnh sát, các đặc vụ liên bang và các công tố viên, và một số người đã nổi lên như là những nghi phạm. Chúng tôi cũng đã phỏng vấn các cựu quan chức chính phủ và cựu sỹ quan quân đội ở Mỹ, Việt Nam và Thái Lan.

Đồng thời, chúng tôi tìm thấy và nói chuyện với hơn hai chục cựu thành viên của “Mặt trận”. Chúng tôi đã theo dấu một số cựu chiến binh “Mặt trận” và đến Thái Lan để gặp các cựu du kích quân người Lào, những người đã từng chiến đấu với họ.

Cuối cùng, chúng tôi đã dành nhiều thời gian với các gia đình của những người chết, và với những người đã bị bắn hoặc bị đánh đập. Một số nạn nhân chưa từng dám nói công khai - hoặc vì họ vẫn sợ hoặc vì họ đã trở nên vỡ mộng với việc thực thi pháp luật ở Mỹ.

Cuộc điều tra của chúng tôi đã vạch trần sự thất bại của chính quyền trong việc kiềm chế tội ác của “Mặt trận” và cho thấy rằng có những dấu hiệu khả quan mà FBI hoặc cơ quan nào đó nên mở lại vụ án. Các thông tin mới bao gồm các câu chuyện từ các cựu thành viên “Mặt trận”, những người chưa từng nói với lực lượng thực thi pháp luật, và một trong số đó đã thừa nhận rằng “Mặt trận” chịu trách nhiệm cho việc giết hại hai trong số các nhà báo. Hồ sơ và các cuộc phỏng vấn cho thấy Minh, như một biện pháp rèn luyện kỷ luật cho đội quân thảm hại của mình ở nước ngoài, đã ra lệnh giết chết các tân binh của mình, có thể là khoảng 10 người. Những người chết có thể bao gồm công dân Mỹ gốc Việt, đáng để cho cơ quan FBI điều tra những tội ác này.

ProPublica và Frontline đã mời các lãnh đạo hiện nay của FBI để thảo luận về cuộc điều tra của cục về “Mặt trận” này. James Comey, giám đốc cục, đã không tham gia buổi phỏng vấn, và cũng không có chuyên gia khủng bố nội địa nào của cục nhận lời. FBI cũng không trả lời một loạt các câu hỏi chi tiết về các hoạt động, được và không được thực hiện, của cục trong suốt nhiều năm của cuộc điều tra. Thay vào đó, họ đã đưa ra một tuyên bố như sau:
"Vào đầu năm 1980, FBI đã phát động một loạt các cuộc điều tra về các vụ tấn công bị cáo buộc động cơ chính trị trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Ban đầu mặc dù được điều tra như những sự vụ đơn lẻ ở nhiều đơn vị khác nhau, cuộc điều tra cuối cùng đã được hợp nhất thành một vụ chính có mật danh là 'VOECRN' theo chỉ đạo của giám đốc cục bấy giờ là Louis Freeh. Những vụ án này được điều tra bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệm của FBI, những người đã thu thập các bằng chứng và tiến hành nhiều cuộc thẩm vấn, đồng thời hợp tác chặt chẽ với các công tố viên của Sở Tư pháp để xác định những người chịu trách nhiệm về những tội ác và tìm kiếm công lý cho các nạn nhân. Bất chấp những nỗ lực đó, sau 15 năm điều tra, các cán bộ của Bộ Tư pháp và FBI đã kết luận rằng cho đến nay, chưa có đủ bằng chứng để khởi tố vụ án".

Những người phát ngôn cho các cơ quan chính phủ khác với sự hiểu biết về sự tồn tại của “Mặt trận” thì cũng không đưa ra bình luận nào.
Bản báo cáo tóm lược của FBI về các tội ác khủng bố

Rốt cuộc thì Minh đã thực hiện ba cuộc xâm nhập vào Việt Nam nhưng đều thất bại và bị giết trong một lần xâm nhập năm 1987. “Mặt trận”, sau một thập kỷ tình nghi khủng bố từ 1980 đến 1991, đã tự chia rẽ và sụt giảm uy tín. Một số kẻ cầm đầu một thời đã chết; số khác sống rải rác trên khắp đất nước, đã về hưu từ các nghề nghiệp như bác sĩ, các chủ nhà hàng hoặc công chức.

Trong số các cựu thành viên “Mặt trận” trả lời phỏng vấn của ProPublica và Frontline, một số khẳng định rằng tổ chức không bao giờ tham gia vào bất cứ hành động bạo lực nào tại Mỹ.

"Không bao giờ. Không bao giờ!" - Pham To Tu, một cư dân Houston nói rằng ông ta đã tham gia tổ chức trong những ngày đầu, cho biết. Kẻ thù của tổ chức, ông nói thêm, "đã tung tin như vậy về chúng tôi."

Thi thoảng, các cựu lãnh đạo của “Mặt trận” tham dự các hoạt động tưởng niệm hoặc đoàn tụ hoặc các cuộc biểu tình mà vẫn kêu gọi lật đổ chế độ ở Hà Nội. Họ xúng xính trong các bộ quân phục tinh tươm. Không khí tại các sự kiện này là sự pha trộn giữa niềm tự hào và sự tức giận dai dẳng, cay đắng và bất cần.

Trang Q. Nguyễn, một đồng sáng lập của Little Saigon TV và Radio ở quận Cam, California, nói rằng sự cố gắng của “Mặt trận” trong việc đe dọa các nhà báo đã rất nổi tiếng trong giới truyền thông Mỹ gốc Việt. Và bà ta lý giải về lý do tổ chức này đã có thể trốn tránh các cơ quan chức năng là: "Mọi người đã quá sợ hãi!"

***

Giống như nhiều người Việt Nam trốn sang Mỹ vì hậu quả của chiến tranh, Hoàng Cơ Minh đã trải qua khoảng thời gian suy sụp tinh thần khi ông ta đến đất nước này.

Ông ta là một người có học, được đào tạo tại trường Đại học Luật Sài Gòn và học viện hải quân Nam Việt Nam, và sau đó, trong những năm 1960, tại Trường sau đại học của hải quân tại Monterey, California. Trong chiến tranh, ông ta chỉ huy một tàu quét mìn ven biển, một con tàu 370 tấn với thủy thủ đoàn gần 40 thủy thủ. Ông ta mang quân hàm phó đề đốc - chuẩn tướng của lực lượng hải quân Nam Việt Nam.

Richard Armitage, một cựu sĩ quan hải quân Mỹ, người đã từng làm việc gắn bó với hải quân VNCH trước khi trở thành một sỹ quan cao cấp của Lầu Năm Góc trong những năm 1980, cũng biết Minh và gọi ông ta là "một chiến binh có tiếng".

Nhưng đến năm 1975, Minh không còn có một quốc gia, hay một lực lượng Hải quân để phục vụ. Ông chạy sang Mỹ vào ngày Sài Gòn rơi vào Bắc Việt. Khi sang tới Mỹ, theo hồ sơ di trú ông ta ,chỉ có 200 USD trong tài khoản ở một ngân hàng Hàn Quốc, một khúc vàng nhỏ và vài chiếc nhẫn rẻ tiền. Ông ta đã thực sự thiếu thốn.

Cùng với Armitage, Minh đã có một số bạn bè có ảnh hưởng: James Kelly, một sĩ quan hải quân Mỹ đã nghỉ hưu, người được coi như một cố vấn cao cấp trong Hội đồng An ninh Quốc gia trong chính quyền của Tổng thống Ronald Reagan và George HW Bush, đã mời gia đình của Minh sống với ông ta ở ngoại ô Virginia bên ngoài Washington. Nhưng dù sao thì cuộc sống mới của Minh ở Mỹ cũng đã bắt đầu một cách khiêm nhường. Ông ta đã làm việc khuân vác cho các chủ nhà ở ngoại ô và sau đó trở thành một thợ sơn nhà.

Chuyển đến một vùng đất mới hiếm khi là dễ dàng. Nhưng hàng trăm ngàn người Việt Nam đến Mỹ trong những năm 1970 không phải là những người di cư kinh tế đơn thuần, tìm kiếm việc làm và điều kiện sống tốt hơn. Họ là những người tị nạn của một cuộc chiến tranh tàn bạo đã giết chết ước tính khoảng 3 triệu người. Họ đã bị buộc phải lựa chọn giữa sống lưu vong hoặc sống dưới sự cai trị khắc nghiệt của những người Cộng sản.
Hoàng Cơ Minh khai rằng mình là người "Không quốc tịch" (Stateless) khi đến Mỹ

Cuộc di cư như thể câu chuyện trong kinh thánh với những con người đầy sợ hãi bị nhồi nhét trên các con tàu quá tải và trong các khu trại tị nạn khốn khổ.

Nhiều người ở lại Việt Nam đã bị thương đến chết trong các trại cải tạo của cộng sản, nơi thực phẩm khan hiếm và bị lạm dụng về thể chất. "Những người Cộng sản đã có danh sách những người đã hợp tác với Mỹ. Những người được gọi là kẻ phản bội", như lời một lính bộ binh VNCH trong một câu chuyện truyền miệng có tên là "Nước mắt trước cơn mưa". Họ "đã bị bắn ngay lập tức, ngay trên đường phố"- ông ta nói. "Những người cộng sản đã không có lòng thương xót."

Mỗi làn sóng tị nạn mang theo nó những câu chuyện đáng lo ngại về điều kiện ở miền Nam Việt Nam khi chính phủ Hà Nội cải tạo đất nước.

Cho tới những năm 1980, đã có khoảng 400.000 người Việt sống ở Mỹ, tập trung ở những nơi như San Francisco, San Jose, Houston, New Orleans, Northern Virginia và quận Cam, California. Hận thù, những cộng đồng mới, thường được gọi là Tiểu Sài Gòn, đã bày tỏ sự phản kháng, và trong thời gian đó, thậm chí rất náo nhiệt. Nhưng trong những năm đầu tiên, có thể họ còn thiếu hiểu biết bởi: bị trói buộc bởi rào cản ngôn ngữ, thất vọng cho quê hương của họ, khao khát báo thù.

Minh nhận ra sự khao khát đó, sẻ chia nó và thực hiện một kế hoạch để thỏa mãn nó.

Sau khi từ bỏ công việc sơn nhà ở Virginia, Minh chuyển đến Fresno, California năm 1981. Trên giấy tờ nhập cư, ông ta nói rằng ông ta đã nhận một công việc mới làm việc cho một tổ chức cứu trợ người tị nạn. Cho dù thế nào, để thực hiện một kế hoạch như vậy, chắc chắn Minh đã dành nhiều năm trà trộn trong đám cựu sĩ quan quân đội VNCH và những người nuôi hy vọng về một cuộc chiến nữa tại Việt Nam. Và trong những mối quan hệ đó, Minh dường như đã lấy lại được mức độ tầm vóc cũ của mình.

"Tôi đã có một sự tôn trọng rất sâu sắc đối với anh ấy", ông Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu quan chức cấp cao của “Mặt trận” cho biết. Một cựu thành viên khác nói Minh "thông minh" và "dũng cảm".

Và vì vậy khi một tập hợp lỏng lẻo của những con người mong muốn trở về quê hương của họ liên kết với nhau để tạo thành “Mặt trận”, Minh đã trở thành lãnh đạo của họ. Ông ta đã cấy trồng một nhóm nhỏ những người nhiệt tình ủng hộ và trong vòng hai năm, ông ta đã sẵn sàng để đưa thông điệp của mình một cách rộng rãi hơn cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

"Chúng tôi quyết tâm đứng dậy để lật đổ các đầu sỏ Việt Cộng bằng sức mạnh", một khẩu hiệu tuyên truyền ban đầu của “Mặt trận” đã nói vậy. Mục đích của “Mặt trận” là để tạo ra "bác ái, tự do và dân chủ"

Theo các cuộc thẩm vấn và các hồ sơ của FBI, để thực hiện điều đó, “Mặt trận” đã đưa ra một quy tắc đạo đức tàn nhẫn, cho rằng những người của họ là luôn đúng trong gần như bất kỳ hành động nào để thúc đẩy cuộc đấu tranh của họ.

***

Minh đã có một tầm nhìn lớn cho quân đội mà ông ta muốn xây dựng. “Mặt trận” không chỉ tuyển dụng tại Mỹ, mà còn sử dụng mạng lưới các mối liên hệ với các cựu quan chức chính phủ và sỹ quan quân đội VNCH để thu hút những người lính tình nguyện từ hàng ngũ của những người tị nạn ở châu Á và Australia.

Trong thời gian đó, Minh củng cố một vùng đất trong các khu rừng ở Đông Bắc Thái Lan để thiết lập một căn cứ hoạt động bí mật. Tân binh của “Mặt trận” sẽ sống tại căn cứ, tập luyện và hoạch định chiến lược. Khi thời cơ đến, họ sẽ lọt vào Việt Nam và thiết lập một chiến dịch du kích cổ điển, kết nối với các băng nhóm chống cộng sản trong nước, gây dựng cuộc nổi dậy từ làng này qua làng. Cuối cùng, chính quyền Hà Nội sẽ sụp đổ như Sài Gòn đã từng.

Giống như bất kỳ quân đội nào, các phiến quân cần một nguồn cung ứng đáng tin cậy để cung cấp tất cả các nhu cầu thiết yếu cho chiến đấu đến căn cứ. Vũ khí. Đạn dược. Thực phẩm. Thuốc men. Quân phục. Điện đài.
Lính của "Mặt trận" được huấn luyện ở Thái Lan

Để có tiền trang bị cho lính tráng, Minh và bọn đã tạo ra một bộ máy gây quỹ tinh vi ở Mỹ. Nó khởi đầu với chi hội của “Mặt trận” trên khắp đất nước. Các thành viên chi hội quyên tiền cho tổ chức, thông thường là hàng tháng. “Mặt trận” bắt đầu xuất bản một tạp chí được gọi là Kháng Chiến để truyền bá tin tức về cuộc nổi dậy của họ và thu hút thêm nhiều tiền đóng góp hơn nữa. Họ thậm chí còn mở một chuỗi các quán phở để tạo ra doanh thu.

Các cựu lính chiến cứng cựa kéo đến “Mặt trận”. Đối với những người lính và thủy thủ VNCH, chiến tranh chắc chắn là đau đớn, nhưng nó cũng đã đem đến cho họ một cảm giác sâu sắc về mục tiêu và những tình bạn thân thiết. Bấy giờ, nhiều người cựu chiến binh cảm thấy mình lay lắt ở Mỹ, lao độngc cực nhọc với các công việc tầm thường trong một đất nước xa lạ. Đối với họ, ý tưởng về việc làm sống lại cuộc chiến đem lại một cảm xúc hấp dẫn sâu sắc.

Một nhà báo đã tham dự một số cuộc biểu tình của của “Mặt trận” trong đầu những năm 1980 đã mô tả đó như là những sự kiện "siêu thực" như thể việc lên đồng.

Một trong những thành viên sáng lập tổ chức, Đỗ Thông Minh, đã giúp phác thảo sơ đồ tổ chức của “Mặt trận” trong một cuộc phỏng vấn gần đây. Lãnh đạo tối cao là Hoàng Cơ Minh, người điều hành hoạt động của “Mặt trận” từ căn cứ trên đất Thái Lan và liên lạc với các đại diện của mình trên toàn thế giới thông qua chuyển phát nhanh và các thông điệp được mã hóa. Phó của ông ta, một người hùng của VNCH tên là Lê Hồng, cũng giúp huấn luyện các tay súng của “Mặt trận” ở Thái Lan. Một người đàn ông khác phụ trách các hoạt động phát thanh của “Mặt trận”, truyền đi những lời kêu gọi nổi dậy vào Việt Nam từ trạm phát sóng phát thanh ở căn cứ trên Thái.

Tại Mỹ, một ủy ban điều hành khoảng 10 người quản lý việc gây quỹ và quảng bá. Dưới sự chỉ huy bởi một cựu đại tá VNCH, Ủy ban t này đã thành lập các chi hội của “Mặt trận” ở châu Âu và Canada cũng như ở Úc và châu Á.
Nguyễn Xuân Nghĩa, cựu chỉ huy và là người phát ngôn của "Mặt trận"
Để tạo tiếng vang - và duy trì dòng tiền chảy về - bộ máy tuyên truyền của “Mặt trận” tung ra các hình ảnh của Minh và đám lính tráng, trong các bộ đồ dã chiến, chuẩn bị cho cuộc chiến tại căn cứ bí mật. Có một cuốn sách nhỏ có hình ảnh của một nhóm lính mới được huấn luyện cơ bản. Họ đang quỳ gối với nòng súng giương cao. Họ nguyện "dành toàn bộ cuộc sống của họ để giải phóng Việt Nam".

Ở Mỹ, những người trung thành với “Mặt trận” đã bắt đầu mặc một bộ đồng phục màu sô-cô-la, áo sơ mi cài cổ và quần kaki; họ được biết đến với tên gọi "áo nâu" trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, những kẻ ủng hộ mù quáng đến đáng sợ. Họ thường xuyên tổ chức các cuộc hội họp và dàn dựng các cuộc biểu tình chống chính quyền Hà Nội.

Những "người mặc áo nâu" cũng ủng hộ đội quân bằng cách kiếm tiền. Họ ép các chủ cửa hàng người Việt đóng góp tiền mặt cho “Mặt trận” và để đặt các thùng quyên góp cho tổ chức tại các cửa hàng và quán ăn của họ. Một số chủ cửa hàng cảm thấy rằng “Mặt trận” đang tống tiền họ và đã tố cáo với FBI.

Lấy ví dụ, theo một biên bản của FBI thì các đặc vụ tại San Francisco đã nhận được thông tin rằng “Mặt trận” sử dụng việc "tống tiền và biện pháp phi pháp khác để góp nhặt và xin tiền". Một báo cáo khác của FBI ước tính rằng kết quả của việc kiếm tiền của “Mặt trận” đã lên đến "vài triệu đô la."

Một số người Mỹ gốc Việt đã bắt đầu tự hỏi tất cả số tiền đã đi đâu. Phải chăng chúng thực sự được sử dụng để cung cấp cho những người lính?

Và họ đã hiểu ra rằng, đó là một câu hỏi mà họ không nên hỏi.

***

Đó là khoảng 11:20 ngày 22 tháng 9 năm 1990, khi Lê Triết lái chiếc xe của mình trên đường về nhà ở Baileys Crossroads, Virginia, ngoại ô Washington, DC. Triết, một trong những nhà văn nổi tiếng nhất trong cộng đồng người Việt, cùng với vợ đang trở về nhà từ một bữa tiệc tối.

Một loạt đạn cỡ 9 ly bắn vỡ tan cửa sổ xe hơi của họ. Trong khoảnh khắc Triết và vợ, Đặng-Trần Thị Tuyết, đã chết.

Các nhà điều tra sau đó đưa ra giả thuyết rằng hai kẻ giết người với súng lục tự động đã đi theo cặp vợ chồng đến ngôi nhà một tầng khiêm tốn của họ. Với các nhân viên FBI, nó trông giống như một vụ tấn công chuyên nghiệp.

Triết, người phụ trách một chuyên mục cho Văn Nghệ Tiền Phong, một nguyệt san nổi tiếng, là sự hòa trộn giữa sự uyên bác và ngoa ngoắt. Chuyên mục của ông ta chuyên thảo luận về thơ ca và văn học, các vụ tranh luận trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và thường tỏ thái độ khinh thị của mình đối với “Mặt trận”. Mặc dù Triết kiên quyết chống cộng nhưng ông ta hoài nghi về “Mặt trận” và các lãnh đạo của nó. Cho rằng tổ chức này quan tâm đến việc gây quỹ nhiều hơn là thực sự hành động lật đổ chính quyền Hà Nội, Triết thường xuyên chỉ trích “Mặt trận” trong các bài báo.
Vợ chồng Lê Triết bị bắn chết trong xe

Trong một bài viết, ông ta thẳng thừng cáo buộc các lãnh đạo “Mặt trận” đang gây nguy hiểm cho lính tráng của họ. "Vở hài kịch này sẽ kết thúc bằng một bi kịch," ông ta viết.

Tài liệu của FBI cho thấy rằng “Mặt trận” đã bị xúc phạm, và đã đe dọa Triết. Các hồ sơ cho biết, nhà báo này đã bắt đầu mang một khẩu súng lục cỡ nòng 0,22 theo người và liên tục thay đổi tuyến đường đi. Theo hồ sơ của FBI và các cuộc thẩm vấn, ngay trước khi bị giết chết, Triết đã gặp các chỉ huy của “Mặt trận” ở một ngôi nhà tại Frederick, Maryland. Các chỉ huy “Mặt trận” đã cố gắng thuyết phục ông ta thôi chỉ trích tổ chức trong các bài viết nhưng ông ta từ chối.

Báo, tạp chí và bản tin đã trở thành món hàng thiết yếu cho cộng đồng tị nạn Việt mới nổi. Đối với các nhà xuất bản cũng như người đọc, các ấn phẩm này chẳng khác khởi đầu, một hương vị ly kỳ cho cuộc sống trong một nền dân chủ.

"Việt Nam chưa từng có lịch sử của tự do báo chí", Jeffrey Brody, một giáo sư truyền thông tại Đại học California State University, Fullerton nói. Brody, người phụ trách Little Saigon cho tờ Orange County Register, nói rằng đối với các ký giả Việt đến Mỹ trong những năm 1970 và 1980, "đó là một Miền Tây hoang dã của tự do, cơ hội để nói bất cứ những gì bạn muốn."

Một số chủ báo hy vọng sẽ trở thành những thế lực truyền thông. Những người khác cho rằng đó là nghĩa vụ của họ. Một phần lớn dân nhập cư vẫn đang học tiếng Anh, nên không có hy vọng cho các nguồn tin tức bằng tiếng Việt. Những ấn phẩm nổi bật hướng đến mảng dịch vụ thông tin chỉ dẫn cho những người nhập cư thích nghi với nền văn hóa mới.

Đối với “Mặt trận”, các phương tiện truyền thông Mỹ gốc Việt là khá hữu ích. Nếu tổ chức muốn thu hút mọi người đến các sự kiện của mình và thuyết phục họ tài trợ cho cuộc chiến tranh du kích của nó, nó cần báo chí Việt ngữ để truyền bá thông điệp của mình và công bố lời kêu gọi của nó.

Nhưng các nhà báo cũng có thể là một mối đe dọa, và một số trong số họ, bao gồm Triết, đã kịch liệt đả kích tổ chức về chiêu trò làm tiền thô thiển của nó và hoài nghi liệu số tiền này có thực sự đến với những người lính. Họ đòi hỏi sự giải thích chi tiết về các khoản đóng góp. Họ không tin vào tuyên bố của Minh rằng y đã xây dựng một đội quân 10.000 người và họ nói với độc giả của họ rằng những con số thực tế có khả năng sẽ thấp hơn nhiều.

Các dữ liệu của FBI, đầy rẫy tại các chi nhánh trên khắp đất nước, miêu tả nhiều về những gì đã xảy ra khi các nhà báo chỉ trích “Mặt trận”: đe dọa, hăm dọa và bạo lực. Một lời đe dọa giết người công khai được gửi đến tác giả cùng với bốn nhà xuất bản đã đăng những bài viết của ông ta. Một danh sách tiêu diệt được gửi sang cho các phương tiện truyền thông Việt ngữ chỉ đích danh năm nhà báo thường đả kích “Mặt trận”. Họ bị dán mác "kẻ phản bội" và bị dọa xử tử. Hai trong số những người trong danh sách đã bị giết.
Một bài báo của Đàm Phong cáo buộc "Mặt trận" đang lừa dối cộng đồng người Việt tại Mỹ

Một nhóm các thành viên "áo nâu" của “Mặt trận” đã tấn công một chủ báo ở quận Cam, California hai lần. Theo một báo cáo của FBI, những kẻ tấn công đã nổi giận vì ông ta cho đăng một bài báo "liên quan đến chương trình của “Mặt trận” để lừa gạt cộng đồng người Việt".

Các thành viên của “Mặt trận” đã tiến hành một chiến dịch quấy rối đối với các nhân viên của Viet Press, một tờ báo ở quận Cam và gây sức ép với các doanh nghiệp để gỡ bỏ quảng cáo của họ cho đến khi tòa soạn báo này đóng cửa. Ông Nguyễn Tú A, chủ báo, nhớ lại: "Tôi tin rằng mình đã thiệt hại khoảng 84.000 đô la".

Ở Fresno, các tay súng đã bắn một ký giả vào giữa mặt sau khi ông dám thách thức “Mặt trận” trong một bài báo. Ông này thì sống sót.

Phạm Văn Tập thì không may mắn như vậy. Tập điều hành MAI, một tạp chí giải trí, quảng cáo cho ba công ty tham gia vào thương mại với Việt Nam, chuyển tiền hoặc vận chuyển hàng hóa về nước. Một kẻ phóng hỏa đốt văn phòng của Tập tại Garden Grove trong khi ông ngủ trong đó. Ông ta chết vì ngạt khói. Một tuyên bố được gửi đến giới báo chí Việt ngay sau vụ sát hại. Nó nói rằng Tập đã bị giết vì ông là một kẻ tham lam đã ủng hộ những người Cộng sản bằng việc đăng các quảng cáo.

Dương Trọng Lâm, 27 tuổi, bị giết chết ở San Francisco vì có thiện cảm với chế độ Hà Nội. Mặc dù Lâm không công khai chỉ trích “Mặt trận”, nhưng ông phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam và thể hiện quan điểm ủng hộ Cộng sản, điều hoàn toàn không phổ biến với nhiều người Mỹ gốc Việt, trong tờ báo của mình.

Ngay sau khi Lâm bị giết, một tổ chức có tên Vietnamese Organization to Exterminate Communists and Restore the Nation (tạm dịch: Tổ chức Việt Nam Diệt Trừ Cộng Sản và Phục Hồi Quốc Gia) hay VOECRN đã phát thông cáo nhận trách nhiệm. Tổ chức Việt để Chặt Cộng sản và Restore the Nation, hoặc VOECRN. FBI cho rằng VOECRN - cái tên còn xuất hiện trong các vụ bạo lực khác - chỉ là một cái tên giả của ““Mặt trận””.


Nếu đây là nỗ lực để che giấu vai trò của "“Mặt trận”" trong việc ngày càng gia tăng sự lộn xộn, thì nó đã không hiệu quả.

"Những gì cho thấy mối quan hệ giữa chúng chính là những thông điệp" - Katherine Tang-Wilcox, một cựu đặc vụ, người chỉ huy cuộc điều tra của FBI cho biết. "Có những lời đe dọa giết người, các vụ tấn công, các vụ giết người. Những thông điệp này để tạo tiếng vang cho họ, hoặc để đe dọa rằng họ sẽ làm những điều đó. "

Tang-Wilcox nói rằng các nhà điều tra cuối cùng cũng bắt đầu thu thập thông tin từ các cựu thành viên của “Mặt trận”, những người cho biết tổ chức này đã thực sự tạo ra một đội sát thủ có mật danh là "K-9." Một bản tóm tắt điều tra của FBI ngày 04 tháng 11 năm 1991 chất đầy tài liệu tham khảo về K-9. Một bản báo cáo có tên "K-9" đã được gửi lên các lãnh đạo. Đó là một dữ liệu khác cho thấy mối liên hệ giữa K-9 đến các vụ giết người cụ thể. Một kết nối K-9 đến vụ giết người cụ thể. Còn một báo cáo khác thì gọi K-9 là "đội thi hành" của “Mặt trận”.

"K-9 được thành lập như là một tổ chức chuyên ám sát của “Mặt trận”," Tang-Wilcox nhớ lại.

Bây giờ, dù đã nghỉ hưu, Tang-Wilcox vẫn không chắc chắn về những người đã ra lệnh các vụ tấn công. Nhưng bà cũng tin rằng “Mặt trận” và đội sát thủ của nó chịu trách nhiệm về việc giết hại Triết và vợ ông ta. Và bà gần như chắc chắn rằng chính tổ chức này cũng đã giết hại chủ báo Nguyễn Đạm Phong ở Houston vài năm trước.

Khi Đạm Phong khởi nghiệp tờ báo của mình vào năm 1981, thật khó khăn để tìm được một chiếc máy đánh chữ có dấu trọng âm để sử dụng cho các bản thảo tiếng Việt. Vì vậy, Đạm Phong đã cẩn thận dò lại từng dòng của bài viết và thêm các dấu tiếng Việt bằng tay với một cây bút. Với bất cứ đánh giá kiểu nào thì ông ta cũng là người tiên phong trong lĩnh vực truyền thông, một trong những người nhập cư Việt đầu tiên thành lập một tờ báo ở Mỹ.
Tú Nguyễn, con trai Đàm Phong, cho biết cha ông ta thường xuyên bị đe dọa vài tuần trước khi bị giết

Sau cả ngày làm việc trong vai trò một trợ lý ở một phòng khám răng, Đàm Phong trở về nhà và dán mình vào giấy tờ, gõ chữ trên cái máy đánh chữ, kiểm tra lại các bài viết trên cái bàn sáng. Những công việc này nuốt rất nhiều thời gian và tiền bạc của ông ta. Nhưng Đàm Phong yêu thích công việc đó.

"Mục đích là để có tiếng nói cho người dân" - con trai của ông, Tú Nguyễn, người đã giúp phân phối tờ báo có tên là Tự Do cho biết. "Đó thực sự là mục đích của ông ấy. Ông không kiếm tiền từ nó. Chẳng có bao nhiêu tiền từ nó cả."
Ông nói cha ông đã xác định mình sẽ truy tìm sự thật, bất chấp hậu quả.

Đàm Phong cuối cùng đã bắt đầu công bố nghiên cứu của ông về sự thật của “Mặt trận”. Đàm Phong không thích chủ nghĩa cộng sản, nhưng ông nghĩ rằng Minh là một kẻ gian lận, một kẻ lừa bịp người Việt. Vì vậy, ông tấn công của “Mặt trận” trong các bài xã luận - trong một bài viết, ông đã gọi Minh và những người theo y là "lũ hề" - và các bài báo tương tự.

Năm 1982, “Mặt trận” thực hiện một vụ khuếch trương hoành tráng: CBS News mô tả các du kích của Minh và lý tưởng của họ trong một đoạn phim kịch tính được phát sóng trên toàn quốc. Từ cảnh quay những người lính của “Mặt trận” đang lê bước qua khu rừng, câu chuyện chuyển sang cảnh “Mặt trận” tuyên bố là đội quân của mình đã vượt qua chiến tuyến và đang xây dựng căn cứ tại một nơi hẻo lánh trên đất Việt.

Đàm Phong bắt đầu chỉ ra các lỗ hổng trong câu chuyện, khám phá ra rằng nhóm lính chẳng hề ở bất cứ chỗ nào gần Việt Nam. Một bài báo trên tờ Tự Do giật tít: Sự thực về việc đề đốc Minh trở về Việt Nam. Đàm Phong đã bay tới Bangkok, nơi đã giúp ông khám phá ra nhiều điều, bao gồm cả vị trí căn cứ của “Mặt trận” ở Thái Lan, điều mà tổ chức này đã cố gắng giấu kín.

Theo ông Tú, con trai ông, “Mặt trận” đã cố gắng bịt miệng Đàm Phong bằng nhiều cách khác nhau. Họ đã cố gắng để hối lộ ông với những phong bì tiền, nhưng ông từ chối. Sau đó, ông Tú nhớ lại, đã có liên tục hàng loạt cuộc gọi điện thoại "từ những người đe dọa sẽ giết ông nếu ông không dừng xuất bản các bài viết về “Mặt trận”." Cuối cùng, ông đã có một buổi gặp gỡ với các nhà lãnh đạo “Mặt trận” trong một nhà hàng ở trung tâm thành phố Houston.
Tài liệu của FBI về vụ giết hại Đàm Phong

Ông Tú nói, các lãnh đạo của tổ chức đã cho cha mình một tối hậu thư: Dừng lại hoặc là chết.

Vài ngày sau đó, Đàm Phong bị giết, bị bắn trong bộ đồ ngủ của mình và bỏ lại trên lối đi của ông. Kẻ giết người - hay những kẻ giết người - không hề để lại vỏ đạn nào tại hiện trường.

"Tôi nghĩ rằng, đặc biệt là với trường hợp của Nguyễn Đạm Phong ở Houston, và Lê Triết cùng vợ, thật đáng tiếc, tại Fairfax, Virginia - có một sự rõ ràng trong phần điều tra của tôi rằng “Mặt trận” quốc gia giải phóng Việt Nam phải chịu trách nhiệm về những vụ giết người này", Tang-Wilcox, cựu nhân viên FBI cho biết.

Vụ Đàm Phong, theo bà, "Không có dấu hiệu của động cơ khác ngoài những vấn đề mà ông ta gặp phải với “Mặt trận” bởi các bài báo mà ông ta đã xuất bản...

Và sau đó con đường nơi vụ giết người được tiến hành. Các vỏ đạn đã được thu lượm. Đó là những người được đào tạo rất bài bản, biết rõ những gì họ đang làm, và không hề để lại bất kỳ bằng chứng nào có thể gây hại sau này. Rồi các thông điệp được vứt lại với ông ta.

"Đó là một vụ ám sát."

***

Một người đàn ông nói rằng ông biết những người chịu trách nhiệm cho cái chết của Đàm Phong. Ông là một cựu sĩ quan VNCH và một thời là thành viên của “Mặt trận”. Ông có làn da màu nâu nhạt với những nếp nhăn của tuổi tác, mái tóc đen nhiều sợi bạc.

Trong tháng Tám, ông đã đồng ý trả lời một cuộc phỏng vấn với ProPublica và Frontline tại căn nhà một tầng ngăn nắp của mình. Ông ta nói rằng mình chỉ nói về các hoạt động của “Mặt trận” nếu chúng tôi không nhắc đến tên ông ta hay chỉ được đề cập đến nơi ở của ông ta là một thành phố ở miền Nam.

Sau một cuộc trò chuyện dài bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi đưa ông ta một danh sách với năm cái tên của các nhà báo đã chết. Ông ta nheo mắt, nghiêng người về phía trước và chỉ một ngón tay trên hai cái tên đầu tiên: Dương Trọng Lâm và Nguyễn Đạm Phong.

"Chúng tôi đã giết họ," ông ta lặng lẽ nói.

Còn những người khác?

"Tôi không chắc chắn," ông ta trả lời. "Và tôi không muốn nói gì trừ khi tôi hoàn toàn chắc chắn."

Người đàn ông không nói ai bóp cò hoặc người đã ra lệnh. Nhìn ông ta bình thản, không hề tỏ ra sự hối hận rõ ràng nào. Ông ta nói mình chưa từng bị thẩm vấn bởi bất cứ người thực thi pháp luật nào ở Mỹ.

ProPublica và Frontline đã tìm thấy tất cả năm cựu thành viên của “Mặt trận”, những người đã thừa nhận rằng một nhóm sát thủ được gọi là K-9 đã làm công việc bẩn thỉu nhất của tổ chức. Một trong số đó là ông Trần Văn Bé Tư.

Vào đầu năm 1980, Bé Tư là một kẻ chống Cộng cực đoan: Ông ta đã bị kết án bảy năm tù vì âm mưu giết người sau khi bắn một người đàn ông tên là Trần Khánh Văn (hay Vân) ở Westminster, California, vào năm 1986. Văn (hay Vân) được nêu tên trong một câu chuyện trên tờ thời báo Los Angeles rằng đã tham gia vận động cho việc đối thoại với chính quyền cộng sản tại Việt Nam.

"Tôi đã bắn, hắn ta đổ xuống như một cái cây" - Bé Tư nói. "Cộng sản là những kẻ bệnh hoạn."

Bảo rằng mình đã rời khỏi “Mặt trận” trước khi thực hiện vụ bắn giết, nhưng Bé Tư vẫn thể hiện sự thân mật và niềm tự hào về những năm tháng của mình với “Mặt trận”, và về sự sợ hãi mà tổ chức này đã trút xuống kẻ thù của nó. Ông ta nói rằng người dân ở quận Cam coi những người giết những kẻ ủng hộ Cộng Sản như những người hùng. Bé Tư cho biết ông ta đã được tuyển chọn để tham gia đội K-9, nhưng ông ta không đồng ý, mặc dù ông ta rất ngưỡng mộ công việc của nhóm này.
Tran Van Be Tu: "Tôi đã bắn, hắn ta đổ xuống như một cái cây"

"K-9 làm tốt lắm, họ là dân chuyên nghiệp mà." ông ta nói. "Và họ chưa bao giờ bị tóm gáy."

Là một người bạn lâu năm của hai trong số những người chỉ huy hàng đầu của “Mặt trận” - những người bị FBI nghi ngờ là đã chỉ đạo các cuộc tấn công - Bé Tư cho biết ông ta nghĩ K-9 đã giết Đạm Phong, và có khả năng là chịu trách nhiệm trong những cái chết của Phạm Văn Tập và Lê Triết cùng vợ.

Chúng tôi đã hỏi thẳng ông ta rằng ông ta có biết tên của người đã giết Đạm Phong không.

Ông ta chỉ cười và nói: "Các anh cứ như là FBI vậy nhỉ?"

***

Những người Mỹ gốc Việt với nhiều đặc điểm truyền thống còn sót lại từ những người di cư đang dần dần vứt bỏ vị thế của những người lưu vong và đồng hóa vào nền văn hóa chung của nước Mỹ.

Nhưng dấn thân vào bất kỳ khu phố nào của Tiểu Sài Gòn trên đất Mỹ, không khó để nhận ra những căng thẳng dai dẳng, một mớ hỗn độn của những bí ẩn lịch sử và sự tranh cãi về lòng trung thành. Những lời miệt thị "Cộng sản" vẫn thỉnh thoảng được ném vào các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh và các đối thủ chính trị.

Những cựu thành viên của “Mặt trận” và những người tự coi mình là nạn nhân của những trò bạo lực của tổ chức này vẫn sống cùng với nhau trong những khu vực di dân ở California và Virginia, Houston và New Orleans. Im lặng vẫn là ngôn ngữ chính. Ngay cả những năm sau này, quy mô “Mặt trận” trở nên nhỏ hơn so với kỳ vọng để có thể làm những việc như trước, nhưng các nạn nhân vẫn thường sợ hãi vì không muốn dây vào rắc rối.

Đoàn Văn Toại là một nhà văn và nhà hoạt động, người thường chỉ trích “Mặt trận” trên mặt báo. Năm 1989, ông bị bắn vào mặt ngay gần nhà của ông ở Fresno, California. Toại vẫn không biết rõ ai đã cố giết ông ta - không có vụ bắt giữ nào - và cũng rất thận trọng để không hé miệng về bất cứ ai.

Nhưng Toại chắc chắn rằng ông ta bị nhắm tới vì những bài viết và tuyên bố công khai của mình. Và ông ta cũng đã nhận được các thông điệp. Sau khi bị bắn, Toại ngừng viết và lui vào ở ẩn.

Trong những năm 1980, Tam Nguyen là một ký giả của một tờ báo Việt ngữ tại San Jose, một tờ báo dám thách thức “Mặt trận”. Tam Nguyen không hề dám viết về những vấn đề rắc rối này - "Tôi đã không dám" - nhưng khi anh xuất hiện tại một sự kiện của “Mặt trận” với máy ảnh của mình trong tay, những kẻ ủng hộ “Mặt trận” đã hành hung anh ta, khiến anh đổ máu và run rẩy.
Ngày nay, Tam Nguyen là một ủy viên Hội đồng thành phố San Jose, đại diện cho khu vực bầu cử số 7 của thành phố. Ông cho biết, thời của khủng bố là "một ký ức đau đớn tôi đã cố gắng chôn sâu xuống". Xung quanh San Jose -tại các quán cà phê, các trung tâm mua sắm và các ngôi chùa Phật giáo - đôi khi ông ta gặp lại những kẻ thù cũ của mình trong “Mặt trận”, đã già hơn rất nhiều, và có lẽ chín chắn hơn. Theo ông ta, thực sự là rất không thoải mái.

Nguyễn Xuân Nghĩa từng là một thành viên của “Mặt trận” và bây giờ ông ta nói về những năm tháng của mình với tổ chức này một cách cẩn trọng và hối tiếc.

Nghĩa đóng vai trò là một nhà chiến lược quan trọng và phụ trách mảng tuyên truyền của “Mặt trận” trong những năm 1980, và có gần một thập kỷ ở hàng ngũ cao nhất của tổ chức. Hiện nay, Nghĩa sống tại quận Cam, California, được đào tạo về kinh tế, và có thời gian dài học về lịch sử châu Á. Nhưng trên hết, ông ta là một nhà bình luận sung mãn, thường xuyên xuất hiện trên các tờ báo Việt ngữ khác nhau.
Nguyễn Đạm Phong, vợ ông và 8 trong số 10 người con.

Trong một loạt cuộc phỏng vấn với ProPublica và Frontline, Nghĩa đã có những thay đổi về trách nhiệm của “Mặt trận”. Lúc đầu, ông ta khẳng định rằng tổ chức này đã không hề liên quan đến các vụ tấn công vào các nhà báo hoặc bất kỳ ai khác ở Mỹ.
Nhưng trong cuộc trò chuyện sau này, khi phải đối mặt với những bằng chứng về tội ác của “Mặt trận”, ông ta đã chuyển sang hướng khác. Trong một cuộc phỏng vấn ghi hình, Nghĩa cho rằng "hoàn toàn có thể" là các thành viên “Mặt trận” đã đứng đằng sau vụ ám sát Đàm Phong và có thể đã phạm những tội ác khác. Ông ta thừa nhận rằng có một phe phái chủ trương bạo lực trong tổ chức, và khi các nhà quay phim tắt máy quay, Nghĩa thừa nhận ông ta đã tham gia vào một cuộc họp của “Mặt trận” mà trong đó các thành viên đã thảo luận một kế hoạch ám sát một biên tập viên báo chí nổi tiếng tại quận Cam. Nghĩa nói rằng ông ta đã khuyên can các đồng nghiệp của mình đừng giết người.

Ông ta nói: "Đó là một khoảng thời gian đen tối trong cuộc đời tôi".

Tại Houston, gia đình Đàm Phong không muốn gì hơn là làm sáng tỏ cái chết của ông ta. Sau khi ông ta bị giết, gia đình ông không có tiền để chuyển đến một ngôi nhà mới. Vì vậy, trong nhiều năm qua vợ và nhiều người trong số 10 người con của ông tiếp tục sống tại nơi mà Đàm Phong đã bị giết.

Theo Tú, cái chết của bố ông là một vụ ám sát, và điều đó không hề đáng ngạc nhiên. Tú biết về các cuộc gọi điện thoại đe dọa. Ông cũng biết bố mình đã mua một khẩu súng để phòng thân và nuôi một con chó săn Đức để bảo vệ ngôi nhà.

"Họ đã nói với ông ấy rằng họ sẽ hạ ông ấy" - Tú nhớ lại.

Tú từng giúp cha mình đi phân phối những tờ báo bằng chiếc xe của nhà, bây giờ là một kỹ sư máy tính. Ông sống trong một khu phố cao cấp với những con đường rợp bóng cây yên tĩnh.

Thi thoảng vào ngày cuối tuần ông dẫn hai đứa con của mình đến nghĩa trang của vùng Pearland lân cận, để thăm mộ Đạm Phong.

Đôi khi ông ngồi xổm xuống, nhìn chằm chằm vào mặt đất và nói, gần như là thì thầm, với cha mình. Ông nói những gì đạt được chắc chắn là không công bằng.

"Đối với chúng tôi, chúng tôi chỉ muốn có câu trả lời," ông nói. "Chỉ thế thôi."

--------
Nguồn: ProPublica và Frontline
Dịch: DLV.VN

HÃY TRẢ SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ!

Những người quan tâm đến Bên Thắng Cuộc của Huy Đức Osin, thì không nên bỏ qua bài viết này.